1. Viễn cảnh lịch sử: Chính sách và Công cụ văn hoá

Nước cộng hoà Azerbaijan nằm tại nơi giao cắt Đông ÂuTây Á, nơi mà tồn tại bên trong nó lịch sử và nền văn hoá cổ xưa và giao thoa với văn hoá của vùng Caucasus.

Qua hơn 20 thế kỷ, Azerbaijan đă trải qua rất nhiều sự kiện bất thường, điều đó làm ảnh hưởng tới việc thực hiện các chính sách và các công cụ văn hoá như là: những thay đổi to lớn về các chế độ chính trị, sự bùng nổ kinh tế và suy thoái kinh tế, các phong trào giải phóng dân tộc và tham gia vào các cuộc chiến tranh khu vực và thế giới.

Nước cộng hoà Azerbaijan, nước cộng hoà lâu đời đầu tiên của miền Đông-được tuyên bố độc lập vào ngày 28/5/1918 và tồn tại trong ṿng 2 năm. Sau đó Azerbaijan suy yếu dưới sự thống trị của Liên Xô trong ṿng hơn 70 năm. Các chính sách chính trị chính thức thông qua trực tiếp bằng các công cụ và gián tiếp bằng tư tưởng, mục đích dần hướng tới “Xô Viết hoá” những bản sắc của dân tộc, văn hoá và nghệ thuật. Bảng chữ cái được sử dụng ở Azerbaijan đă thay đổi 2 lần trong suốt thời gian này: trong năm 1929 từ Arập sang Latinh và sau đó lại chuyển từ Latinh sang ngôn ngữ Sla-vơ năm 1939. Sự không ổn định này khiến cho lớp người trẻ tuổi và các nhà nghiên cứu gặp phải khó khăn khi nghiên cứu về các di sản văn hoá.

Theo một tài liệu mang tính tích cực hơn, những sự nỗ lực được tạo ra để  đảm bảo sự phổ cập xoá mù chữ và mở rộng sự tham gia vào nghệ thuật và văn hoá. “ Nghệ thuật đến với công chúng” không chỉ là nghệ thuật hùng biện mà c̣n là một kim chỉ nam cho hành động. Là một nước cộng hoà Xô Viết, tuy nhiên, nghệ thuật lại được tổ chức hợp lư về ư thức hệ. Những dấu hiệu đầu tiên của chủ nghĩa cá nhân và sự loại bỏ các nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực xă hội đă trở thành hiện thực vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960. Kể từ thời điểm đó, nghệ thuật đă dần giải phóng chính nó khỏi sự kiểm soát của nhà nước. Ở một số ngành, quá tŕnh này diễn ra mạnh mẽ hơn ở các ngành khác, nhưng nó dẫn đến làn sóng mạnh mẽ về nhận thức của quốc gia khoảng vào giữa những năm 1980.

Vào ngày 18/10/1991, Đạo luật thể chế đă được thông qua và sự độc lập của Azerbaijan đă được khôi phục lại. Với rất nhiều các vấn đề trong nước và ngoài nước, nước cộng hoà này đă phải trải qua một thời kỳ h́nh thành đầy khó khăn.

Năm 1993, nguời lănh đạo của Azerbaijan, Ông Heydar Aliyev đă trở lại làm Tổng thống của nước cộng hoà Azerbaijan, chiểu theo yêu cầu của người dân nước này. Trong một thời gian rất ngắn, sự ổn định chính trị trong nước đă được phục hồi, các chiến lược mới đă được giới thiệu và đường lối quan trọng đối với sự phát triển hơn nữa của đất nước đă được xác định rơ. Giai đoạn tiếp theo trong sự tiến bộ chính trị -xă hội của Azerbaijan đă bắt đầu và chính sách văn hoá của Azerbaijan hiện thời đă đựơc thực hiện vào thời gian đó.

Đầu tiên và trước hết, chính sách văn hoá của Azerbaijanhiện nay là chính sách đă giành lại được sự độc lập của đất nước trong ṿng 2 thập kỷ cuối cùng của sự tồn tại của nó. Sự biến chuyển về chính trị đă đem lại những thay đổi về xă hội, kinh tế, cơ cấu một cách triệt để đă có tác động ngay tức thời tới văn hoá và các xu thế văn hoá. Thành tựu lớn nhất trong những năm vừa qua có thể là sự h́nh thành một ư thức xă hội mới, dần dần giũ bỏ đi sức ́ trí tuệ của thời kỳ trước đó.

Những thay đổi đáng kể về văn hoá và xă hội, sự toàn cầu hoá, các ưu tiên mới về văn hoá, sự thâm nhập vào khung cảnh văn hoá của văn hoá quần chúng và các ngành công nghiệp văn hoá, sự bùng nổ thông tin liên lạc, những sự tiếp cận mới cho bảo tồn và chuyển giao di sản nghệ thuật, và sự nhận thức mới về tầm quan trọng của văn hoá trong sự phát triển- là các nhân tố mà góp phần cho các khái niệm mới về văn hoá và chính sách văn hoá quốc gia.

2.   Năng lực, quyết định và quản lư

2.1. Miêu tả tổng quan của hệ thống

Azerbaijan là một nước cộng hoà mang tính đơn vị, lâu đời, dựa trên luật, dân chủ. Chỉ có một nguồn sức mạnh của nhà nước ở nước cộng hoà Azerbaijan là của người dân Azerbaijan. Thể chế được thông qua bằng cuộc tổng trưng cầu dân ư của toàn dân vào ngày 12/12/1995, đưa ra nguyên tắc về phân chia quyền lực: Milli Medjlis (Quốc hội) thực thi quyền lập pháp; thi hành quyền lực thuộc về Tổng thống; và Toà án luật thực thi quyền hành pháp.

Milli medjlis - một cơ quan bao gồm 125 nghị viện, được bầu cử trực tiếp theo nhiệm kỳ 5 năm. Uỷ ban văn hoá soạn thảo luật về văn hoá.

Quyền hành pháp ở Azerbaijan được thực hiện thông qua Toà án thể chế, Toà án tối cao, Toà án phúc thẩm, các toà án luật thông thường và chuyên biệt khác.

Tổng thống nước cộng hoà Azerbaijan là người đứng đầu của Azerbaijan. Tổng thống được bầu cử với nhiệm kỳ 5 năm theo cách tổng tuyển cử b́nh đẳng, trực tiếp bằng cách bỏ phiếu kín, mang tính chất cá nhân và vô tư. Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ với sự nhất trí của Quốc hội. Đối với việc tiến hành quyền hành pháp, Tổng thống thiết lập nội các bộ trưởng trực thuộc và chịu trách nhiệm báo cáo cho Tổng thống.

Theo các cuộc cải cách được tiến hành ở các cơ quan quản lư thuộc nhà nước của nước Cộng hoà Azerbaijan, và để đảm bảo việc thiết lập cơ cấu tốt nhất, Bộ Văn hoá và Bộ Thanh niên, Thể thao và Du lịch đă được cải cách; Bộ Văn hoá và Du lịch và Bộ Thanh niên và Thể thao đă được thành lập theo Nghị quyết của Tổng thống nước Cộng hoà Azerbaijan ngày 30/1/2006.

Bộ Văn hoá và Du lịch của nước cộng hoà Azerbaijan là một cơ quan hành pháp Trung ương, thi hành chính sách nhà nước và các sửa đổi các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, du lịch, các công tŕnh văn hoá và lịch sử, xuất bản và điện ảnh.

Bộ Văn hoá và Du lịch của nước Cộng hoà khu tự trị Nakhchivan (NAR), quản lư về văn hoá và du lịch tại Baku, Ganja, Sumgayit, và sở văn hoá và du lịch của 64 thị trấn và quận huyện, chịu trách nhiệm về các vấn đề chính sách văn hoá du lịch của địa phương.

2.2. Sự hợp tác liên bộ và liên chính phủ

Cần xem xét những khu vực có sự kết hợp tích cực của 2 hay nhiều hơn các thể chế được yêu cầu,  Bộ Văn hoá và Du lịch hợp tác mật thiết trong nội các Bộ trưởng của Nước cộng hoà Azerbaijan với các bộ khác, các uỷ ban nhà nước và các cơ quan hành pháp có liên quan, trong khi thảo luận và đưa vào thực hiện chính sách văn hoá và du lịch- xem bảng bên dưới.

Bảng 1: Hợp tác liên bộ

Lĩnh vực hoạt động

Hợp tác với

Gây quỹ cho hoạt động văn hoá

Bộ Tài chính

Cục thuế

Bản quyền luật về văn hoá

Bộ Tư pháp

Cơ quan bản quyền tác giả tái bản

Giáo dục, đào tạo và nghiên cứu về văn hoá

Bộ giáo dục

Học viện Khoa học Quốc gia Azerbaijan

Điều khoản về cơ sở hạ tầng, thông tin, kỹ thuật vận tải

Bộ Phát triển kinh tế

Bộ Cộng nghệ thông tin

Bộ Giao thông vận tải

Uỷ ban Kiến trúc và quy hoạch đô thị Nhà nước

Phúc lợi xă hội

Bộ Lao động và Trật tự an toàn xă hội

Bộ Y tế

Quỹ bảo trợ xă hội Nhà nước

Nguồn nhân lực

Bộ Thanh niên và Thể thao

Uỷ ban Nhà nước về các vấn đề của Gia đ́nh, Phụ nữ và Trẻ em

Uỷ ban hỗ trợ dân sự dưới quyền Tổng thống nước cộng hoà Azerbaijan

Văn hoá dân tộc thiểu sô

Uỷ ban nhà nước về nghiên cứu các tổ chức tôn giáo

Quy hoạch các công viên và khu danh thắng

Bộ Sinh thái và Tài nguyên môi trường

Thống kê

Uỷ ban thống kê Nhà nước

Hợp tác quốc tế

Bộ Ngoại giao

Uỷ ban nhà nước về nghiên cứu các vấn đề về chủng tộc

Uỷ ban hải quan nhà nước

Uỷ ban Quốc gia Azerbaijanvề UNESCO

An ninh và các hậu quả chiến tranh của Mỹ

Bộ An ninh quốc gia

Bộ Nội vụ

Bộ Quốc pḥng

Uỷ ban Nhà nước về các vấn đề người tị nạn và IDPs

Uỷ ban về quyền con người (thanh tra) của nước cộng hoà Azerbaijan

Quản lư chung

Các cấp chính quyền hành pháp tại địa phương

 

Trong một số trường hợp, Tổng thống nước cộng hoà Azerbaijan, hoặc nội các Bộ trưởng, thành lập ra các uỷ ban nhà nước chuyên biệt và các uỷ ban tổ chức, bao gồm các đại diện từ các cấp tương đương của Chính phủ, nhằm tạo thuận lợi cho sự hợp tác liên bộ và thực hiện các chương tŕnh của nhà nước mang tính chất lâu dài hoặc củng cố các dự án. Một ví dụ về công tŕnh họ tiến hành là “Chương tŕnh quốc gia về phát triển kinh tế xă hội của các khu vực giai đọan 2004-2008”.

Các uỷ ban Chính phủ cũng có thể được thành lập với mục đích chuẩn bị báo cáo quốc gia cho các tổ chức quốc tế ví dụ như Báo cáo định kỳ lần thứ 2 của nước Cộng hoà Azerbaijan về “Hiệp ước Quốc tế về các quyền văn hoá, xă hội và kinh tế”, với mục đích tăng cường đối thoại về giao thoa văn hoá và đảm bảo các quyền của văn hoá các dân tộc thiểu số. Báo cáo này do Uỷ ban Chính phủ thực hiện, với sự tham gia của các đại diện cấp cao từ các bộ ngoại giao, nội vụ, tư pháp, y tế, văn hoá và du lịch và các bộ ngành khác.

2.3. Sự hợp tác văn hoá quốc tế

2.3.1. Tổng quan về các xu hướng và cơ cấu chính

Kể từ khi Azerbaijan giành lại được nền độc lập, các mối quan hệ văn hoá quốc tế đă trở thành một trong những công cụ quan trọng của chính sách ngoại giao mới. Các mục đích chính của chính sách nhằm nuôi dưỡng các mối quan hệ dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau và niềm tin với các nước khác, hợp tác với các nước này trên cơ sở các quyền b́nh đẳng và hai bên cùng có lợi, và quảng bá với thế giới một bức tranh toàn cảnh về nước Cộng hoà Azerbaijan. Văn hoá đóng một vai tṛ quan trọng trong việc h́nh thành h́nh ảnh của một nhà nước trẻ, và đạt được sự phát triển to lớn về kinh tế và chính trị trong việc tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ và đầy sức thuyết phục của đất nước. Sự dân chủ hoá, phân quyền và không c̣n độc quyền về các lĩnh vực văn hoá cũng đă được phản ảnh trong các mối quan hệ văn hoá quốc tế của Azerbaijan. Sự cộng tác đă được thiết lập với các quốc gia ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Phi ở các cấp độ quốc gia, vùng và thành phố, và giữa các hội nghệ sỹ và cá nhân các nghệ sỹ, mà hiện nay thường hoạt động độc lập. Ngoài các h́nh thức quan hệ văn hoá song phương truyền thống ví dụ như sự trao đổi về hợp tác của nhà hát và hoà nhạc, ngày lễ văn hoá, v.v.., Bộ văn hoá và du lịch đang thực hiện theo một cách hiệu quả và thành công, hợp tác văn hoá đa phương với các tổ chức quốc tế như UN, UNESCO, Uỷ ban châu Âu, EU, WTO, OIC, ISESCO, TURKSOY, BSEC, CIS, GUAM, vv.

2.3.2. Các nhân tố chung và ngoại giao về văn hoá

Bộ Văn hoá và Du lịch soạn thảo và thực hiện chính sách ngoại giao về văn hoá song phương và đa phương, hợp tác với Bộ Ngoại giao – cơ quan hành pháp quan trọng của Azerbaijan chịu trách nhiệm về thực hiện tất cả các mối quan hệ quốc tế và các vấn đề hợp tác. Nước Cộng hoà Azerbaijan coi sự phát triển và tăng cường hoạt động thiết lập tiêu chuẩn quốc tế như là một vấn đề quan trọng và cùng với đó là tham gia vào một số buổi hội thảo quốc tế quan trọng về an ninh và sự chuyển giao văn hoá trên quy mô lớn với các quốc gia khác – với nhu cầu chiểu theo các tiêu chuẩn cập nhật của luật quốc tế.

Các công cụ luật quốc tế trong lĩnh vực văn hoá được Azerbaijan phê chuẩn bao gồm: Hiệp ước Quốc tế về các quyền trong lĩnh vực Kinh tế, Xă hội và Văn hoá từ năm 1966 (1992), Hiệp định về bảo vệ sở hữu văn hoá trong sự kiện xung đột vũ trang và Điều ước Protocol (1993), Hiệp ước về bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới (1993), Hiệp ước về hợp tác của các nước nằm trong khu vực biển Đen về văn hoá, giáo dục, khoa học và thông tin (1995), Hiệp ước về việc công nhận của các nghiên cứu, công văn và các giấy tờ chứng nhận liên quan tới giáo dục cao hơn nữa ở các nước thuộc khu vực châu Âu (1996), Hiệp ước bản quyền toàn cầu (1997), Hiệp ước về cấm vận và ngăn chặn xuất - nhập khẩu và chuyển giao trái phép tài sản văn hoá (1997), Hiệp ước về Văn hoá châu Âu (1997), Hiệp ước về bảo vệ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (1998), Hiệp ước châu Âu năm 1992 về Bảo vệ các di sản khảo cổ học (1999), Hiệp ước châu Âu về hợp tác làm phim (1999), Hiệp ước UNIDRUA về đánh cắp và xuất khẩu trái phép các vật thể văn hoá (2000), Hiệp ước về bảo vệ Di sản Văn hoá phi vật thể (2006), và Hiệp ước về Bảo vệ di sản kiến trúc của châu Âu (2008).

Chính phủ đề xướng các thủ tục tham gia vào Hiệp ước UNESCO về Bảo vệ và Giới thiệu sự đa dạng của các biểu hiện văn hoá. Các bộ chủ chốt làm việc về vấn đề đó là các Bộ Văn hoá và Du lịch và Bộ Ngoại giao, cùng với Uỷ ban quốc qia Azerbaijanvề UNESCO.

2.3.3.  Các nhân tố và các chương tŕnh quốc tế/ châu Âu

Azerbaijan tham gia vào hàng loạt các dự án văn hoá đa phương. Việc cộng tác với Hội đồng châu Âu (CoE) là một trong những nhân tố chính của việc cam kết đa phương. Bộ đă bắt đầu làm việc với ban chỉ đạo của CoE về văn hoá vào năm 1999 (như trước khi tham gia chính thức vào hội đồng châu Âu vào ngày 25/1/2001). Đầu năm 2000, Azerbaijan đă tham gia vào dự án của CoE/ ERICarts về “các chính sách văn hoá ở châu Âu: Bản tóm tắt về các sự kiện và các xu hướng cơ bản”. Những năm từ 2001 đến 2005 là những năm đáng chú ư đối với Azerbaijan về việc tham gia vào dự án “STAGE ” của hội đồng châu Âu (“Hỗ trợ cho việc giao thoa nghệ thuật ở châu Âu”), nhằm thiết lập các chính sách văn hóa mới, hỗ trợ sự đồng nhất về văn hoá, đa dạng về văn hoá, tính sáng tạo và sự tham gia của tất cả các nhóm xă hội trong đời sống văn hoá của Nam Caucasus.Thành tựu chính của dự án này nhằm tạo ra bản báo cáo quốc gia về chính sách văn hoá ở Azerbaijan (2002) và tổ chức cuộc hội thảo quốc gia về chính sách văn hoá (tháng 6 năm 2003, Baku) với đội cộng tác giữa các nhà chuyên nhà của Azer baijani và Hội đồng châu Âu. Thư viện, Viện bảo tàng Quốc gia và các chính sách của thành phố cũng được đưa vào xem xét bởi các chuyên gia châu Âu; ngoài ra, c̣n tổ chức các cuộc hội thảo và các chương tŕnh đào tạo khác nhau về các vẫn đề quan trọng hiện tại trong khuôn khổ của dự án STAGE như việc huy động và quản lư vốn…

Phía Nam Caucasus, Moldova và Ucraina đă bắt đầu chương tŕnh khu vực sáng kiến Kyiv (KI) trong suốt cuộc hội đàm cấp Bộ trưởng mở rộng lần thứ 5 cuả các quốc gia tham gia vào dự án STAGE vào tháng 9 năm 2005. Để đáp ứng được sáng kiến này và đưa ra những kế hoạch  từ dự án STAGE này, cơ quan thư kư của Hội đồng châu Âu đă hợp tác với các nước tham gia nhằm nhận ra những mục tiêu và vạch rơ những điều kiện. Có rất nhiều các dự án đa phương trong phạm vi của KI như việc quản lư di sản, trao đổi du lịch văn hoá về rượu (WCTE), các tuyến đường văn hoá/ tuyến Alexander Dumas, văn hoá chiếu phim xuyên quốc gia (CBCC), chính sách và sự trao đổi về văn hoá. Trong đó đáng chú ư là tuyến đường Alexander Dumas ở Caucasus được Bộ Văn hoá và Du lịch nước Cộng hoà Azerbaijan khởi xướng. Dự án này có sự tham gia của nước Cộng ḥa Azerbaijan, Georgia, Cộng hoà Dagestan ở Liên Bang Nga và Pháp với sự hỗ trợ về mặt phương pháp luận từ Viện Các tuyến đường văn hoá châu Âu có trụ sở tại Luxemburg.

Cuộc hội thảo của các bộ trưởng Baku về ăn hoá diễn ra vào ngày 2 – 3/12/2008 với chủ đề “ cuộc đối thoại liên văn hoá là nền tảng cho hoà b́nh và phát triển ổn định ở châu Âu và các khu vực lân cận”. Hội nghị này được tổ chức chỉ cách một vài tháng sau khi ban hành và khởi xướng “sách trắng về cuộc đối thoại liên văn hoá” và kế theo đó là Hội nghị thượng đỉnh lần thứ ba liên quan đến “chiến lược Faro” cho việc phát triển cuộc hội thoại về liên văn hoá.

Azerbaijan đă gia nhập vào tổ chức UNESCO năm 1992. Kể từ đó, có rất nhiều lễ kỷ niệm được tổ chức ở các trụ sở chính của UNESCO tại Pari nhằm ghi dấu ấn về đại lễ lần thứ 1300 về tiểu thuyết thiên anh hùng ca của Azerbaijan, Kitab-I Dede Qorqud (1998), lễ kỷ niệm lần thứ 800 ngày sinh của Nasir ad-Din Toosi (2001), lễ kỷ niệm lần thứ 200 ngày sinh của Mirza Kazem-Bey (2002), lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của viện sĩ hàn lâm Yusif Mammadaliyev (2005), lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của nghệ sĩ làm thảm Latif Kerimov (2006), lễ kỷ niệm lần thứ 100 của đoàn biểu diễn ôpêra đầu tiên ở phía đông: “Leyli và Majnun”(2008), lễ kỷ niệm lần thứ 100 của nhà sinh vật học Musa Aliyev (2008), lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của nhà văn Mir Jalal Pashayev (2008) và lễ kỷ niệm lần thứ 100 của hoạ sĩ Sattar Bahlulzadeh vân vân…

Các uỷ ban quốc gia đă thành lập các chương tŕnh liên chính phủ của UNESCO như sau: Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (ICOM),  Hội đồng Quốc tế các công tŕnh và các địa điểm tưởng niệm (ICOMOS), Hội đồng Âm nhạc Quốc tế (IMC), Viện  Nhà hát Quốc tế…

Bộ Văn hoá và Du lịch đă nhanh chóng phát triển các mối quan hệ hợp tác với tổ chức Văn hoá, Giáo dục, Khoa học của đạo Hồi (ISESCO); nghị định thư hợp tác giữa Bộ Văn hoá và Du lịch với ISESCO đă được kư kết trong suốt phiên họp lần thứ năm của cuộc Hội thảo đạo Hồi của các bộ trưởng du lịch (vào tháng 9 năm 2006 tại Baku). Nước Cộng hoà Azerbaijan đă được bổ nhiệm là thành viên của Hội đồng Tư vấn cho việc thực hiện chiến lược văn hoá đối với thế giới đạo Hồi trong những năm 2005 đến 2008. Tại cuộc hội thảo đạo Hồi của các nhà bộ trưởng văn hoá lần thứ năm (diễn ra từ ngày 21 – 23/11/2007 tại Tripoli), thủ đô của nước cộng hoà Azerbaijan, trong năm 2009 Baku đă được công bố là thủ đô văn hoá đạo Hồi. Các chương tŕnh hoạt động cho năm 2009 bao gồm việc tổ chức các sự kiện về du lịch văn hoá và nghệ thuật, giáo dục và đào tạo, khoa học thực tiễn chính thức và mang tính quốc gia, các liên hoan phim, hội chợ triển lăm sách, các dự án về việc bảo vệ di sản văn hoá của đạo Hồi, các ngày văn hoá…Cuộc hội thảo về văn hoá của các bộ trưởng ở các tổ chức đạo Hồi đă được diễn ra tại Baku từ ngày 13 -15/ 10/2009.

Azerbaijan đă được mời tham gia vào các mối quan hệ hợp tác mạnh mẽ về văn hoá và kinh tế, an  ninh và chính trị đối với EU, sự hợp tác trong khu vực và xuyên quốc gia và trách nhiệm chia sẻ trong việc ngăn chặn xung đột và giải quyết những xung đột đó. Bản kế hoạch giữa EU và Azerbaijannhằm tăng cường sự hợp tác về văn hoá nhờ việc nghiên cứu các khả năng hợp tác trong khuôn khổ các chương tŕnh của EU liên quan đến văn hoá. Nó cũng có sự chia sẻ  quan điểm tại hội nghị UNESCO về việc bảo vệ và thúc đẩy tính đa dạng về văn hoá và thúc đẩy việc phê chuẩn cũng như thực hiện bằng văn bản. Ngoài những sự phát triển này, Azerbaijan đă bắt đầu hợp tác với các đối tác ở phía Đông bằng một dự án của Liên bang châu Âu với sự tham gia của các nước là Ucraina, Belarus, Moldova và phái Nam Caucasus.

Các bộ trưởng văn hoá của các quốc gia nói tiếng Turkic (gồm có nước Cộng hoà Azerbaijan, Cộng hoà Kazakhstan, Cộng hoà Kyrgyzstan, Cộng hoà Uzbekistan, Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ và Turkmenistan), đă sáng lập ra tổ chức quốc tế đầu tiên TURKSOY ở Azerbaijan cho việc phát triển chung về văn hoá và nghệ thuật Turkic vào tháng 7/1993. Các nước cộng hoà nói tiếng Turkic ở Liên Bang Nga như Tatarstan, Bashkortostan, Khakasia, Tyva, Altay, Saha-Yakitiya, nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ ở vùng tự trị phía Bắc Cyprus và Gagauz Yeri của nước cộng hoà Moldova cũng tham gia sau đó với tư cách là những người quan sát viên. TURKSOY đă đưa ra đường lối chỉ đạo và hỗ trợ trong lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật, trên quan điểm bảo tồn và làm phong phú di sản văn hoá và lịch sử của các nước và quốc gia nói tiếng Turkic, thúc đẩy các giá trị tri thức và tinh thần, đồng thời bảo vệ các quyền và tự do của con người.

Di sản văn hoá khổng lồ của các nước GUAM, gồm có Georgia, Ucraina, Azerbaijanvà Moldova đă được đưa vào xem xét và các nước này đă kư nghị định thư về việc hợp tác trong lĩnh vực văn hoá trong khuôn khổ của GUAM cho các năm 2007 đến 2010. Bộ Văn hoá và Du lịch của nước cộng hoà Azerbaijan cùng với sự hỗ trợ của văn pḥng Moscow của UNESCO đă xây dựng trang web “Đài quan sát thông tin về các chính sách văn hoá của các quốc gia thuộc tổ chức GUAM”, và được khởi xướng vào ngày 19/12/2007 tại Trung tâm Bảo tàng Baku. Dự án “Phát triển đài quan sát thông tin về chính sách văn hoá của các nước thuộc tổ chức GUAM” sẽ ở trong quá tŕnh nghiên cứu đặc biệt về các thuyết khái niệm chính sách văn hoá của mỗi nước (gồm các khái niệm và các chương tŕnh của từng nước trong lĩnh vực văn hoá) ”.

Hiện tại, Bộ Văn hoá và Du lịch của nước cộng hoà Azerbaijan, Hội đồng về hợp tác văn hoá của các quốc gia tự trị trong khối thịnh vượng chung đă chủ tŕ và hỗ trợ các cuộc thi của lớp thành niên ở Đen-phin, nhằm giúp cho mọi người nhận thức được các chương tŕnh và các dự án hợp tác về việc giữ ǵn các mối quan hệ về văn hoá giữa những người của các nước hậu Xô Viết.

2.3.4.     Hợp tác chuyên nghiệp trực tiếp

Bộ Văn hoá và Du lịch luôn khuyến khích không ngừng sự hợp tác xuyên quốc gia với các viện di sản và nghệ thuật, các hiệp hội chuyên nghiệp, các mạng lưới và các tổ chức NGO khác về tất cả các lĩnh vực như chính sách văn hoá, bảo vệ di sản, nhà hát, khiêu vũ, phim, nhạc… Thí dụ, hội nghị kỷ niệm lần thứ 10 của dự án “Bản tóm tắt về các chính sách và các xu hướng văn hoá ở châu Âu” đă được diễn ra tại Baku vào ngày 4-5/12/2008 với sự tham gia của hàng loạt những nhà nghiên cứu kiệt suất từ Hội động các quốc gia châu Âu và khu vực ISESCO, đây là cơ hội quan trọng cho việc xúc tiến cuộc đối thoại liên văn hoá và xem xét các cơ hội mới cho sự hợp tác xuyên quốc gia trong tương lai.

Hiện tại, Bộ Văn hoá và Du lịch đă chi trả tiền lệ phí hội viên hàng năm cho một số các tổ chức quốc tế và hỗ trợ việc tham gia của các chuyên gia Azerbaijan tại các cuộc hội thảo của Hội đồng Âm nhạc châu Âu, các đại hội quốc tế của các nhà nghiên cứu về khiêu vũ và các cuộc hội thảo của Hội đồng Nghệ sĩ châu Âu… Bộ Văn hoà và Du lịch cũng hỗ trợ các cuộc hội thảo trong nước và quốc tế cũng như các liên hoan được tổ chức ở các cộng đồng khác nhau.

Theo sau thư giới thiệu trong sách trắng của Hội đồng châu Âu về cuộc đối thoại liên văn hoá và bản tuyên bố tại cuộc hội thảo Baku của các bộ trưởng văn hoá th́ Azerbaijan sẽ tham gia vào chương tŕnh “các nghệ sỹ tham gia đối thoại” nhằm vạch ra bản kế hoạch lâu dài để khuyến khích sự cộng tác và hợp tác giữa các nghệ sỹ và các diễn viên về văn hoá đến từ châu Âu, Địa Trung Hải, Trung Đông và Trung Á.

2.3.5. Hợp tác và đối thoại liên văn hoá xuyên quốc gia

Dựa theo các bản kế hoạch làm việc của Bộ Văn hoá và Du lịch th́ các cuộc tŕnh diễn của các nghệ sĩ về âm nhạc và ca kịch sẽ được tổ chức ở nước ngoài trong suốt những ngày văn hoá cũng như các cuộc thi và các lễ hội mang tầm cỡ quốc tế cũng do Bộ này tổ chức. Mặc dù không có hệ thống đặc biệt nào trong việc viện trợ tài chính cho các hội viên nhưng vào thời điểm này Bộ Văn hoá và Du lịch cũng giúp đỡ các nghệ sĩ và các tổ chức NGOs liên quan đến các hoạt động văn hoá này. Hơn nữa, quỹ công trái nhà nước, các ngân hàng cùng các thể chế tài chính khác hoạt động tại Azerbaijan cũng có sự bảo trợ đáng kể nhằm giúp đỡ và thúc đấy việc đi lại của các nghệ sĩ cũng như các ảnh minh hoạ trên sách báo.

Có một điều rất mới mẻ và đặc biệt đáng chú ư trong các chính sách ưu tiên văn hoá nước ngoài của Azerbaijan là nhằm mục đích duy tŕ mối liên kết với các trung tâm và các hiệp hội văn hoá của những người Azerbaijan sống tại các quốc gia khác. Theo thông tin mới nhất có khoảng 100 các trung tâm và hiệp hội văn hoá ở nhiều quốc gia trên thế giới như Australia, Belarus, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Estonia, Pháp, Georgia, Đức, Anh, Hà Lan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Moldova, Norway, Nga, Tây Ban Nha, Thuỵ Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Turkmenistan, Ucraina, Mỹ  và Uzbekistan. Rất nhiều người Azerbaijan từ các hiệp hội/ các trung tâm này là các đại diện tiêu biểu ở các cuộc đại hội quốc tế lần thứ nhất và thứ hai diễn ra tại Baku vào tháng 11 năm 2001 và tháng 4 năm 2006. Uỷ ban Nhà nước hợp tác với những người Azerbaijan định cư ở nước ngoài (ngày nay gọi là Uỷ ban nhà nước Diaspora) đă được h́nh thành theo nghị định của Thủ tướng nước cộng hoà Azerbaijan vào năm 2002.

2.3.6.  Các vấn đề liên quan khác

“Tiến tŕnh Baku” được dựa trên các đặc trưng liên khu vực của Azerbaijan, từ t́nh trạng địa lư, những khát vọng về chính trị-xă hội và những truyền thống về lịch sử- văn hoá mà sẽ góp phần quan trọng mang tính lịch sử về sự thay đổi của khu vực này, như là một nơi gặp gỡ của các chuyên gia đến từ phía Đông và Tây hay từ phía Nam và Bắc. Trên cơ sở đó, nước cộng hoà Azerbaijan hiện đại sẽ trở thành thành viên Chính phủ duy nhất của Hội đồng châu Âu và Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của đạo Hồi (ISESCO), gần đây Bộ Văn hoá và Du lịch của nước cộng hoà Azerbaijan đă khởi xướng tiến tŕnh Baku  nhằm mang lại sự hợp tác chặt chẽ hơn của các khu vực này bao gồm các nước thành viên của CoE và ISESCO.

Tiến tŕnh Baku gồm có 3 giai đoạn khởi đầu như sau:

·  Tổ chức cuộc hội thảo của Hội đồng châu Âu giữa các bộ trưởng văn hoá ở Baku, trong đó sẽ có khách mời danh dự từ ISESCO và một vài nước thành viên của nó (Hội thảo Baku của các bộ trưởng liên quan đến văn hoá sẽ được diễn ra từ ngày 2 – 3/12/2008 với chủ đề “cuộc đối thoại liên văn hoá sẽ là nền tảng cho hoà b́nh và phát triển ổn định ở châu Âu và các nước láng giềng của nó”).

·  Tổ chức cuộc hội thảo của ISESCO giữa các bộ trưởng văn hoá ở Baku, trong đó sẽ có khách mời danh dự từ Hội đồng châu Âu và một vài nước thành viên của nó (Cuộc hội thảo về văn hoá lần thứ VI giữa các bộ trưởng và việc tổ chức hội thảo của các nước thành viên đạo hồi được diễn ra tại Baku từ ngày 13-15/10/2009, tiếp theo đó là tiến tŕnh Baku và lễ kỷ niệm Baku như là một thủ đô văn hoá đạo Hồi trong năm 2009).

·   Tổ chức diễn đàn thường niên hai năm một lần về cuộc đối thoại liên văn hoá (bản kế hoạch lần thứ nhất cho năm 2011) với sự hiện diện của các tổ chức liên chính phủ có liên quan và các  bộ trưởng văn hoá trên khắp thế giới.

3. Các mục tiêu và các nguyên tắc chung của chính sách văn hoá

3.1. Các nhân tố chính của mô h́nh chính sách văn hóa hiện tại

Hệ thống chính sách văn hoá ở Azerbaijan có sự hỗ trợ của nhà nước trong tất cả các lĩnh vực, trong đó nhà nước tham gia vào các quyết định chính, cung cấp sự hỗ trợ về tài chính và quản lư các hoạt động của các đối tác khác nhau liên quan đến văn hoá, đặc biệt là các chính quyền trong khu vực và các tổ chức chuyên môn. Cách tiếp cận này là rất cần thiết để bảo vệ văn hoá và nghệ thuật, cũng như quan tâm đến cuộc sống của những nghệ sĩ và những người làm việc về văn hoá trong giai đoạn chuyển tiếp.

Vào thời gian này, những thay đổi về mặt xă hội đáng kể trong suốt những năm gần đây đă dẫn đến sự phát triển của mô h́nh chính sách văn hoá mới. Chính sách văn hoá quốc gia cùng với sự phát triển kinh tế nhanh sẽ là cơ hội tốt để phát triển trong tương lai không xa, kết hợp với việc quản lư linh hoạt ở cấp trung tâm cùng với sự năng động và những sáng kiến ở cấp khu vực sẽ làm tăng ngân sách về văn hoá của nhà nước, và sẽ cải thiện các kỹ năng về marketing và nguồn quỹ của các nhà quản lư, nhà doanh nghiệp và các nhà sản xuất về văn hoá độc lập.

Như đă được thảo ra trong hiến pháp và Luật về văn hoá, chính sách văn hoá quốc gia được dựa trên những nguyên tắc các cơ hội cân bằng nhằm tạo ra và sử dụng các giá trị văn hoá và nhằm bảo tồn di sản ở Azerbaijan. Mỗi người đều có quyền tạo ra, sử dụng và phổ biến các giá trị văn hoá, không quan tâm đến địa vị xă hội, quốc tịch, chủng tộc, tôn giáo và giới tính. Luật này đảm bảo sự tự do trong việc biểu diễn nghệ thuật và đưa ra cơ sở pháp lư cho việc phát triển văn hoá quốc gia như là một phần không thể thiếu của nền văn hoá thế giới. Các nguyên tắc này phản ánh đúng các nguyên tắc của Hội đồng châu Âu ưu tiên hàng đầu tính dân chủ, quyền con người và các chính sách văn hoá như thúc đẩy sự hiểu biết và sự đa dạng về văn hoá (như tự do biểu diễn), khuyến khích sự sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá.

3.2.  Khái niệm quốc gia về văn hoá

Trong luật về văn hoá đă đưa ra định nghĩa chính thức về văn hoá, trong đó có sự xem xét các hoạt động văn hoá như sự sáng tạo, sự quyên góp, sự khám phá, phổ biến, truyền bá, chứng minh và bảo vệ các tài sản về văn hoá. Tài sản văn hoá đă được định nghĩa ở Điều 33 là “những tiêu chuẩn về thẩm mỹ và tinh thần, các chỉ tiêu, các quy tắc hành xử, ngôn ngữ, tiếng địa phương, văn hoá truyền thống của dân tộc và của quốc gia, các địa danh lịch sử, các văn hoá dân gian, các môn nghệ thuật truyền thống, các công tŕnh nghệ thuật và văn hoá, những kết quả và phương thức nghiên cứu khoa học về các hoạt động văn hoá, các mục tiêu và ác công tŕnh liên quan đến các sự kiện văn hoá và lịch sử mà trở nên đáng chú ư trên quan điểm văn hoá và lịch sử và các mục tiêu văn hoá của các quốc gia”.

3.3.  Các mục tiêu chính sách văn hoá

Theo bản dự thảo về “thuật ngữ văn hoá của nước cộng hoà Azerbaijan ” được soạn thảo bởi Bộ Văn hoá và Du lịch gần đây, đă đưa ra 7 mục tiêu về văn hoá tổng thể để theo đuổi.

1.             Phát triển hợp pháp

·      Sự phát triển phức tạp trong hệ thống lập pháp chính sách văn hoá quốc gia;

·       Mở rộng sự hợp tác trong khuôn khổ các hội nghị quốc tế và các thoả thuận song phương; và

·      Hoàn thiện các ư kiến của giới chuyên môn hiện tại về việc bảo vệ quyền tác giả.
2. Thực hiện các biện pháp hiện đại trong việc quản lư văn hoá và nghệ thuật

·    Tiếp tục các quá tŕnh phân quyền của việc quản trị bằng việc quản lư cân bằng giữa các chính quyền điều hành khu vực và trung tâm;

·     Nhận ra việc chống độc quyền  bằng việc h́nh thành quản lư nghệ thuật và hệ thống các  nhà sản xuất; đồng thời thúc đẩy việc quản lư hiện tại; và

·     Dân chủ hoá ổn định nhằm h́nh thành xă hội cộng đồng, bảo tồn các giá trị quốc gia và khuyến khích những sáng kiến riêng.

3. Đa dạng hoá các nguồn tài chính:

·     Đánh giá những lĩnh vực tối ưu của ngân sách nhà nước cho văn hoá và nghệ thuật;

·   Thu hút các nguồn tài chính khác (những người bảo trợ, những nhà khẳng khái giúp đỡ về lĩnh vực văn nghệ, những người hỗ trợ…); và

·   Thực hiện việc marketing không ngừng và luôn đổi mới để cải thiện hệ thống các dịch vụ chi trả về văn hoá.

4. Không ngừng cung cấp thông tin

·     Hưỡng dẫn việc nghiên cứu phương pháp luận và các cuộc thăm ḍ dư luận, tổ chức các cuộc hội thảo chuyên môn và hội nghị chuyên đề…

·     Cơ sở dữ liệu chung, phác thảo và thực hiện các chương tŕnh và các dự án có liên quan; và

·    Đưa các thông tin về văn hoá và nghệ thuật quốc gia lên các phương tiện thông tin đại chúng quốc gia và quốc tế cũng như lên Internet.

5. Phát triển các nguồn nhân lực

·   Đưa các các yêu cầu về nghề nghiệp và đạo đức đối với những người làm trong ngành văn hoá;

·  Làm hoàn thiện các hệ thống đào tạo và giáo dục chuyên nghiệp; và

·T́m kiếm những nhân tài trẻ bằng việc tổ chức các cuộc thi, cuộc tŕnh diễn và các lễ hội mang tính chuyên môn…

6. Hiện đại hoá cơ sở vật chất và kỹ thuật

·  Xây dựng các toà nhà chuyên môn và phục hồi lại các viện văn hoá;

·  Trang bị cho các công ty văn hoá những  công nghệ truyền thông thông tin và kỹ thuật hiện đại; và

·    Cung cấp cho các viện thông tin những trang phục tŕnh diễn trên sân khấu, các công cụ âm nhạc…

7. Phát triển hợp tác quốc tế

·  Thúc đẩy hợp tác đa phương trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế;

·  Đẩy mạnh các mối quan hệ song phương với các nước ở khu vực châu Phi, châu Á, châu Mỹ và châu Âu hàng đầu; và

·   Hỗ trợ các trung tâm văn hoá quốc gia của Azerbaijan hoạt động ở nước ngoài.

4. Vấn đề hiện tại về phát triển và thảo luận chính sách văn hoá

4.1. Các vấn đề và những ưu tiên hàng đầu về chính sách văn hoá cơ bản

Thủ tướng Azerbaijan , Ilham Aliyev  đă ra nghị định về việc thành lập Bộ Văn hoá và Du lịch vào ngày 30/1/2006 với mục đích cải thiện việc quản lư các ngành văn hoá và du lịch và cũng nhằm tổ chức các lĩnh vực này để đáp ứng những yêu cầu hiện đại.  Cách làm này có thể được coi là sự cách tân đầy tính lạc quan về những lĩnh vực đó, đồng thời cũng là hồi chuông báo động về việc cần thiết phải xem lại các chính sách văn hoá quốc gia hiện tại.

Trong sự kết nối này, cần phải vạch ra những vấn đề và những ưu tiên về chính sách văn hoá nào cần phải được phát triển cùng nhau, song hành với các chiến lược du lịch văn hoá và du lịch quốc gia. Như chúng ta  biết, văn hoá Azerbaijan, nghệ thuật và các di sản văn hoá là một trong những điểm thu hút chính đối với các khách du lịch trong và ngoài nước, v́ thế chúng ta cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển để có sự độc lập hơn từ quan điểm kinh tế. Đồng thời, ngành du lịch quốc gia cần phải tận dụng hết các tiềm năng hiện có đồng thời liên kết chặt chẽ với các ngành quản lư về văn hoá để đóng góp thiết thực vào phúc lợi của quốc gia và giúp hội nhập vào cộng đồng thế giới.

Bộ Văn hoá và Du lịch đă vạch ra các chiến lược và các chương tŕnh hết sức chi tiết về các lĩnh vực khác nhau trong các chính sách du lịch và văn hoá của nhà nước như “Chương tŕnh quốc gia về việc phát triển du lịch trong năm 2007 đến 2016”, “chương tŕnh quốc gia về các lĩnh vực phát triển thông tin thư viện trong những năm 2008 đến 2013”, “ chương tŕnh quốc gia về phát triển các rạp chiếu phim ở Azerbaijan trong những năm 2008 đến 2018”, “chương tŕnh quốc gia về việc cải thiện các hoạt động của các trường nghệ thuật và âm nhạc của trẻ em ở nước cộng hoà Azerbaijan từ năm 2009 đến 2013”, các bản phác thảo về “ư niệm chung về văn hoá ở nước cộng hoà Azerbaijan” và “Khái niệm về di sản văn hoá vô h́nh ở Azerbaijan”, “chương tŕnh về nguồn vốn sáng tạo của con người cho những năm 2010 - 2014”…

Những ưu tiên hàng đầu trong chính sách văn hoá đă được đưa ra đó là:

·   Nâng cấp và cập nhập các cơ chế quốc tế và cơ sở hạ tầng, cán bộ nhân viên, thông tin, tài chính, quản trị, luật pháp của các chính sách văn hoá;

·   Bảo tồn và phục hồi các di sản văn hoá vô h́nh và hữu h́nh (các đài tưởng niệm văn hoá và lịch sử, các vật trưng bày âm nhạc và các kho thư viện, văn hoá dân gian truyền thống, nghệ thuật trang trí hữu h́nh và văn hoá dân tộc);

·  Hiện đại hoá các hệ thống thư viện và viện bảo tàng theo các tiêu chuẩn của châu Âu;

·  Hỗ trợ công việc sáng tạo trong các lĩnh vực mỹ thuật, âm nhạc, rạp hát; và

·  Phục hồi lại các ngành văn hoá quốc gia (rạp chiếu phim, nhà xuất bản…).

4.2. Những vấn đề và những cuộc thảo luận về chính sách văn hoá gần đây

4.2.1. Các dân tộc thiểu số, các nhóm và cộng đồng văn hoá

Do những đặc điểm văn hóa, kinh tế và lịch sử khác nhau ở Azerbaijan nên tất cả người dân đều có quyền tự do về tôn giáo và tôn trọng các nền văn hoá của những người khác và dân tộc thiểu số quốc gia. Có rất nhiều cộng đồng văn hoá khách nhau đang sống ở Azerbaijan gồm có người Nga, người Ucraina, người Kurd, Lak, Lezg, Slavyan, Tat, Tatar, George, Ingiloy, Talish, Avar, cộng đồng Akhiska Turks, Jews, Đức, Hy Lạp… Có ba đại diện về tôn giáo lớn nhất ở Azerbaijan - những người theo đạo hồi, người theo đạo Cơ Đốc và những người theo đạo Do Thái- sẽ tham gia vào tất cả những hành động và sự kiện ở cấp quốc gia trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá của nhau.

H́nh 1: Thành phần nhóm dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân cư

Nguồn: Uỷ ban Thống kê nhà nước của nước cộng hoà Azerbaijan, 2008

Việc hỗ trợ và bảo vệ sự đa dạng văn hoá cũng được phản ánh trong chính sách nhà nước của nước cộng hoà Azerbaijan. Các chính sách quốc gia đều được dựa trên hiến pháp của nước cộng hoà Azerbaijan, trong đó mang lại sự công bằng cho tất cả người dân, không phân biệt thành phần tôn giáo, dân tộc và chủng tộc. Việc h́nh thành nên sự phân biệt chủng tộc hay tính bài ngoại về dân tộc, tôn giáo và chủng tộc đều không được chấp nhận. Các thành phần dân tộc thiểu số ở Azerbaijan đều có quyền b́nh đẳng về văn hoá và có quyền tiếp cận những di sản văn hoá của đất nước như những thành phần có địa vị ở Azerbaijan. Trong Điều 8 (“quyền b́nh đẳng về văn hoá”) của Luật văn hoá khẳng định rằng “Mỗi người đều có quyền b́nh đẳng về văn hoá quốc gia và lựa chọn những giá trị đạo đức, mỹ học và những thứ khác cho riêng họ; nhà nước luôn khuyến khích những quyền b́nh đẳng về văn hoá của họ”. Điều khoản này đưa ra sự bảo đảm pháp lư ngay lập tức nhằm bảo vệ các giá trị văn hoá, không có sự phân biệt về chủng tộc, dân tộc và quốc gia nhưng đồng thời cũng dựa trên tính nhân văn. Có hàng loạt các điều khoản khác về Luật văn hoá trong đó mang lại sự bảo đảm pháp lư về quyền của từng cá nhân đối với việc nhận ra các giá trị văn hoá. Đặc biệt, trong đó có điều 48 về sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hoá, điều 49 về sự trao đổi quốc tế trong lĩnh vực văn hoá, điều 50 về sự hợp tác trong việc bảo tồn các giá trị văn hoá  đă mang lại sự phát triển và đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế đối với các cộng đồng văn hoá với quê hương giàu truyền thống lịch sử của họ. Sự đảm bảo này cũng được nói đến trong rất nhiều các đạo luật khác của nước cộng hoà Azerbaijan liên quan đến văn hoá.

Bộ Văn hoá và Du lịch đă tiến hành rất nhiều các hoạt động khác nhau liên quan đến việc bảo vệ và phát triển các giá trị văn hoá của các cộng đồng dân tộc thiểu số quốc gia trong nước, trong đó có sự hợp tác với các cộng đồng văn hoá, các trung tâm dân tộc thiểu số; tổ chức biểu diễn nghệ thuật của những cộng đồng dân tộc trong khu vực sinh sống; tổ chức các cuộc triển lăm về dân tốc học, nghệ thuật và những truyền thống của các dân tộc thiểu số; 4 chuyến lưu diễn ở nước ngoài của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Azerbaijan, khuyến khích sự sáng tạo và các màn tŕnh diễn các tác phẩm nghệ thuật, thúc đẩy những nét văn hoá và truyền thống của các nhóm dân tộc thiểu số; và trang bị cho các diễn viên không chuyên những bộ trang phục truyền thông, những dụng cụ âm nhạc…

4.2.2. Các vấn đề ngôn ngữ và các chính sách

Theo hiến pháp của nước cộng hoà Azerbaijan trong năm 1995, “Ngôn ngữ Azerbaijan là ngôn ngữ chính thức của nước cộng hoà Azerbaijan và nhà nước sẽ luôn tạo điều kiện phát triển ngôn ngữ này. Nước cộng hoà Azerbaijan cũng đảm bảo việc sử dụng và phát triển tự do các ngôn ngữ khác từ cộng đồng dân cư (Điều 21)”. Tiếng Nga cũng được xem là ngôn ngữ quan trọng và đứng thứ hai, đồng thời cũng được sử dụng rất phổ biến trong hầu hết các thành phố lớn. Tỷ lệ học sinh ở các trường giáo dục tổng hợp về việc dạy ngôn ngữ bắt đầu năm từ 2007 / 2008 là 92% đối với tiếng Azerbaijan, 7.2% đối với tiếng Nga và 0.1 % đối với Georgia.

Vào ngày 18/6/2001, Tổng thống nước cộng hoà Azerbaijan đă kư Luật cải thiện về việc sử dụng ngôn ngữ quốc gia. Trong đó có chỉ ra việc cần thiết phải sử dụng toàn diện ngôn ngữ nhà nước và việc sử dụng chung hệ thống chữ viết La tin. Luật về ngôn ngữ quốc gia của nước cộng hoà Azerbaijan sẽ có hiệu lực vào tháng 1 năm 2003, quy định việc sử dụng các biện pháp bảo vệ và phát triển đối với ngôn ngữ quốc gia. Không có các ngôn ngữ chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Để có thêm thông tin chi tiết, các bạn hăy xem thêm ở các phần 4.2.1, 4.2.3 và 5.1.9.

4.2.3. Đối thoại liên văn hoá: các diễn viên, các chiến lược và các chương tŕnh

Bản chất đa quốc gia và sự thẳng thắn của cộng động người Azerbaijan là một trong những khía cạnh quan trọng cho cuộc đối thoại liên văn hoá, là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách văn hoá quốc gia. Tinh thần chủ đạo của chính sách quốc gia này xuất phát từ hiến pháp trong đó có đề cập đến quyền b́nh đẳng cho tất cả mọi người, không quan tâm đến thành phần dân tộc hay chủng tộc. Luật về việc tham gia các hội nghị mang tầm quốc tế trong việc loại bỏ tất cả những h́nh thức phân biệt chủng tộc (1996) đă có ảnh hưởng trở lại trong Luật văn hoá (1998) và các luật có liên quan khác. Vào ngày 16/6/2001, Azerbaijan đă tham gia vào hội nghị cơ cấu tổ chức của Hội đồng châu Âu nhằm bảo vệ các thành phần dân tộc ít người của quốc gia đó. Bộ Văn hoá và Du lịch chịu trách nhiệm thực hiện các chương tŕnh và các chính sách nhằm thúc đẩy đối thoại liên văn hoá ở Azerbaijan, ở các cấp chính sách khu vực và quốc gia. Trong đó có sự hợp tác chặt chẽ với Bộ Giáo dục, Bộ Thể thao và Thanh niên, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Uỷ ban Nhà nước việc h́nh thành nên các tôn giáo, Uỷ ban Nhà nước về các vấn đề trẻ em và phụ nữ trong gia đ́nh, Học viện Khoa học Quốc gia Azerbaijan và Cơ quan Quyền tác gia ở Azerbaijan về việc xem xét các vấn đề được đưa ra.

Azerbaijan rất tích cực trong việc tham gia vào tất cả các chương tŕnh và các hoạt động có liên quan của UNESCO, Hội đồng châu Âu và các tổ chức quốc tế khác nhằm thúc đẩy cuộc đối thoại liên văn hoá.  Bộ Văn hóa và Du lịch đă thực hiện dự án “Sự đa dạng văn hoá ở Azerbaijan”, dự án này được vạch ra nhằm chú trọng đặc biệt đến sự đa dạng văn hoá của các thành phần dân tộc của đất nước. Bộ này cũng tham gia vào các hiệp hội văn hoá của các thành phần dân tộc thiểu số quốc gia khác nhau nhằm tạo điều kiện cho việc nhận ra được một trong những mục tiêu chiến lược chính của nó đó là phát triển và hỗ trợ cuộc đối thoại liên văn hoá. Một bản tuyên bố đă được đưa ra tại cuộc hội thảo về khoa học với chủ đề “sự đa dạng văn hoá ở Azerbaijan” (tháng 6 năm 2002, Baku) đă khẳng định sự cần thiết phải có những mối tương tác và hợp tác không ngừng giữa ngành nhà nước, ngành tư nhân và cộng đồng xă hội; nhằm tiến hành các cuộc kiểm tra định kỳ về thực trạng bảo tồn và hỗ trợ về đa dạng văn hoá. Vào tháng 12 năm 2006 và tháng 10 năm 2008, Bộ Văn hóa và Du lịch đă tổ chức rất nhiều các sự kiện và các lễ hội truyền thống đáng chú ư khác với chủ đề “Azerbaijan - quê hương của tôi”. Các cuộc hội thảo khoa học, các triển lăm ảnh, các cuộc thi hoà nhạc sơ khảo và chung kết được diễn ra trong khuôn khổ của các lễ hội, và đă thu hút hàng ngàn người tham gia từ tất cả các thành phần dân tộc và các nhóm dân tộc thiểu số quốc gia  sinh sống tại Azerbaijan.

Để có thêm thông tin chi tiết, xem thêm phân 4.2.1.

4.2.4. Sự liên kết xă hội và các chính sách văn hoá

Sự liên kết xă hội nhằm đảm bảo phúc lợi xă hội cho tất cả những người dân và tránh sự phân biệt về mặt kinh tế là một trong những vấn đề kinh tế-xă hội và văn hoá mang tính quốc gia tại Azerbaijan. Thí dụ, Thủ tướng nước cộng hoà Azerbaijan đă phê duyệt nghị định vào tháng 2 năm 2003 về các vấn đề chính sách văn hoá xoay quanh “chương tŕnh quốc gia trong việc xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế trong những năm 2003-2005”, tập trung vào 3 lĩnh vực chính:

·   Quan tâm đến những người hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, và làm tăng khả năng chuyên môn và việc cung cấp thông tin;

·    Cải thiện khả năng của các viện văn hoá và nghệ thuật và các vật thể để làm sao cho tất cả những người dân đều có thể tiếp cận một cách công bằng; và

·    Bảo tồn các di sản văn hoá, thiết lập những điểm du lịch văn hoá mới cũng như mở những nơi làm việc mới.

V́ thế, “chương tŕnh quốc gia về xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế trong năm 2003-2005” đă thu được kết quả đáng chú ư, trong đó mức nghèo trong năm 2005 là 29.3% và trong năm 2007 chiếm 15.8 % so với 46.7% trong năm 2002.

Nghị định của Thủ tướng nước cộng hoà Azerbaijan vào ngày 15/9/2008 đă bắt đầu có hiệu lực, trong đó có đề cập đến việc thực hiện “các chương tŕnh quốc gia mới về xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế trong những năm 2008-2015”.

Ngoài những thành tựu trong việc tăng trưởng kinh tế th́ vẫn có rất nhiều vấn đề vẫn chưa được giải quyết trong đời sống kinh tế- xă hội của đất nước, đặc biệt trong các lĩnh vực phát triển và việc làm trong khu vực. Những định hướng chính trong việc hỗ trợ và các chính sách của nhà nước trong việc đưa ra các nhân tố để đẩy mạnh việc phát triển kinh tế ở các vùng miền khác nhau trong những năm 2004 đến 2008, đă được phê duyệt trong chương tŕnh quốc gia về phát triển kinh tế- xă hội của các khu vực trên khắp nước Azerbaijan.  Chính sách xă hội trong khu vực bao gồm việc đáp ứng những nhu cầu về xă hội của người dân, cải thiện điều kiện sống của họ, tăng tiền trợ cấp đều đặn, đặc biệt quan tâm đến những người khuyết tật, những cựu chiến binh trong chiến tranh, những gia đ́nh trẻ và những thành phần gặp khó khăn trong xă hội. Các mục tiêu chiến lược của các biện pháp trong lĩnh vực văn hoá phải kể đến việc bảo vệ và phát triển các nguồn tiềm năng về văn hoá và những phong tục truyền thống của đất nước, tăng việc tài trợ ngân sách một cách có hệ thống trong lĩnh vực văn hoá và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin, kỹ thuật và tự nhiên trong ngành này. Việc phát triển các vùng miền theo những định hướng đă kể trên và việc thực hiện các biện pháp được chỉ ra trong chương tŕnh quốc gia là một giai đoạn quan trọng trong việc phát triển kinh tế- xă hội và cải thiện t́nh trạng cuộc sống của toàn bộ cộng đồng dân cư.

4.2.5. Tính đa nguyên của các phương tiện truyền thông đại chúng và sự đa dạng về nội dung

Hiện nay, có tới 2 ngh́n chương tŕnh được đăng kư trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chủ yếu được đưa lên báo và có hơn 80 sự kiện được đưa lên các dịch vụ phát thanh truyền h́nh và radio. Chỉ có 15 % các bài báo và tạp chí xuất hiện ở các cơ quan nhà nước, c̣n hơn 65% các bài báo là đến từ các tổ chức kinh tế -xă hội, các cơ quan tư nhân và các cơ quan luật pháp. Các biện pháp chống độc quyền đă được đưa ra nhằm ngăn cản sự độc quyền trên các phương tiện truyền thông trong Luật về các hành động chống độc quyền (1993), đă đưa ra cơ sở pháp lư để bảo vệ tất cả những người và những lĩnh vực trong nền kinh tế thị trường bao gồm cả phương tiện truyền thông đại chúng từ các loại độc quyền của nhà nước, vùng, khu vực, tín dụng tài chính, giấy phép sử dụng đặc quyền sáng chế, tự phát và các loại độc quyền khác. Không có sự hạn chế để có thể tiếp cận được các thông tin chính thức từ các cơ quan Chính phủ; đây là trách nhiệm của các cơ quan báo chí có liên quan trong việc cung cấp những thông tin chính thức cho người dân.

Không có kênh TV về văn hoá và nghệ thuật đặc biệt nào, bởi v́ các kênh này hoạt động phụ thuộc vào chính sách phát thanh của họ cho nên họ chỉ đưa ra một loạt các chương tŕnh khác nhau đều đặn về những nội dung văn hoá và nghệ thuật, xoay quanh các cuộc biểu diễn nhạc POP hay các chương tŕnh về các di sản cổ điển. Tổ chức phi lợi nhuận quốc tế “AzerbaijanInternews” đă có các chương tŕnh đào tạo cụ thể cho các nhà báo. Tổ chức này tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề thường xuyên, việc đào tạo kỹ thuật (với hơn 50 cuộc hội thảo chuyên đề từ năm 1997, với sự tham gia của hơn 500 nhà báo chuyên nghiệp) và các chương tŕnh tư vấn chiến lược nhằm mục đích củng cố lại các kỹ năng chuyên môn cho các nhà báo và những người biên tập ở Azerbaijan.

Hội đồng phát thanh TV- Đài quốc gia đă được thiết lập theo nghị định của thủ tướng nước cộng hoà Azerbaijan và theo những tiêu chuẩn của Hội đồng châu Âu vào tháng 1 năm 2003. Trách nhiệm của hội đồng này là nhằm đưa chính sách của nhà nước trong các lĩnh vực phát thành truyền h́nh, cấp phép cho các kênh đó đồng thời giám sát sự hoạt động của họ dựa theo Luật về phát thanh và truyền h́nh (2004).

Hội đồng báo chí đă được thành lập vào tháng 3 năm 2003 tại cuộc đại hội đầu tiên của các  nhà báo Azerbaijan. Chức năng chính của hội đồng độc lập này là được phép hoạt động mà không chịu sự can thiệp của nhà nước và được điều hành bởi các nhà báo và các mối quan hệ theo quy định giữa  nhà báo và những cá nhân, cũng như các công ty tư nhân, giám sát các tờ báo và thực hiện các quy định của bộ luật dân sự do hội đồng các nhà báo đưa ra.

Luật về phát thanh truyền h́nh cộng đồng trong đó dựa trên nguyên tắc của sự minh bạch, tính vô tư và sự quan tâm của cộng đồng đă được thông qua vào ngày 11/9/2004. Để mang lại cho xă hội những thông tin minh bạch và thẳng thắn, đồng thời thể hiện sự quan tâm của các nhóm xă hội khác nhau th́ một trong hai ứng viên được đề cử đó là Quốc hội và Hội đồng phát thanh đă thành lập các tổ chức khác vào tháng 5 năm 2005: Liên đoàn Thương Mại Azerbaijan, Học viện Khoa học Quốc gia, Hội đồng báo chí, tổ chức thanh niên, các nhóm xă hội của phụ nữ, các liên đoàn thể thao, các nhóm tôn giáop và các tổ chức sáng tạo. Lễ khai trương công ty phát thanh truyền h́nh cộng đồng đă được diễn ra vào ngày 29/8/2005.

Vào ngày 31/7/2008, Thủ tướng nước cộng hoà Azerbaijan đă kư nghị định đặc biệt về việc thông qua những khái niệm về sự hỗ trợ của nhà nước đối với việc phát triển các phương tiện truyền thông đại chúng ở nước này  nghị định về việc đưa ra sự trợ giúp về mặt tài chính đối với các phương tiện truyền thông.

Xem thêm ở phần 5.3.8.

4.2.6.Các ngành văn hoá: Những chính sách và chương tŕnh

Các ngành văn hoá ở Azerbaijan gồm có rạp chiếu phim, phát thành và truyền h́nh, nghề xuất bản, nghề báo chí, sản xuất ảnh ghi âm và nghe nh́n, các công nghệ mới, cộng nghệ cao và b́nh thường. Ngoài rạp chiếu phim và việc xuất bản sách ra th́ sự phát triển các ngành này chủ yếu nhận được sự hỗ trợ từ nhà nước và Bộ Văn hóa và Du lịch sẽ chịu trách nhiệm quản lư chúng, c̣n tất cả các lĩnh vực khác sẽ có sự độc lập và không có sự trợ cấp tài chính nào từ Chính phủ. Trong xu thế chung của các thị trường công nghiệp th́ ngành tư nhân đang phát triển rất nhanh. Trong lĩnh vực văn hoá, ngành này chủ yếu được nói đến trong việc sản xuất các băng nhặc, đía nén, sản xuất sách định kù, bào chí , phát thành và truyền h́nh.

Sẽ rất khó để nắm bắt được thị trường này, việc nghiên cứu các vấn đề bản quyền và thực hiện việc nghiên cứu về khía cạnh xă hội học trong lĩnh vực này bởi v́ rất nhiều các dữ liệu đă được che đậy rất tinh vi bởi các nhà kinh doanh tư nhân v́ thế không thể có được những bản nghiên cứu  chuyên sâu để chỉ ra rằng có rất nhiều vấn đề nghiêm trọng liên quan đến luật thuế và  bản quyền trong các ngành audio, video và máy tính. Mặc dù có những vấn đề này nhưng các ngành văn hoá rất có tiềm năng phát triển trong tương lai và nếu có được sự quản lư tốt và cân xứng trong việc hợp tác với nền văn hoá trên thế giới th́ chắc chắn điều này sẽ tạo ra những mối quan hệ có lợi lẫn nhau chỉ trong khoảng thời gian ngắn.

Do thiếu dữ liệu nên rất khó để mô tả thị trường của những sản phẩm văn hoá ở Azerbaijan. Theo như quan sát và đánh giá th́ điều này giống như “kim tự tháp của những nhu cầu”.

Bảng 1: Tháp nhu cầu

Nhu cầu lớn nhất là nhu cầu sử dụng các loại đĩa nhạc kỹ thuật số nghe nh́n. Tiếp theo nhu cầu tham gia vào các buổi ḥa nhạc pop. Đứng vị trí ở giữa là số người tham gia vào các cuộc biểu diễn rạp hát, chiếu phim Trong đó nhu cầu về các buổi ḥa nhạc cổ điển và các tác phẩm nghệ thuật, nghệ thuật ứng dụng th́ nhỏ hơn.

Để biết thêm chi tiết, hăy xem mục 4.2.5

4.2.7. Các chính sách việc làm cho ngành văn hóa

Ngày nay cũng có xấp xỉ 48 ngh́n người lao động làm việc trong ngành văn hóa của nước Cộng ḥa Azerbaijan. Bảng liệt kê dưới đây thể hiện số lượng người làm trong một số lĩnh vực của ngành văn hóa thuộc thập kỷ trước.

Bảng 2: Tổng số việc làm trong các ngành văn hóa khác nhau từ 2000-2007

 

 

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Tại các thư viện công cộng

 8242

7 827

7 811

8 047

7 882

7 832

7 801

7 616

Tại các câu lạc bộ

10 200

9 118

9 253

9 007

8 987

8 554

8 302

8 364

Tại các bảo tàng

2 226

2 204

2 261

2 297

2 384

2 435

2 422

2 681

Tại các công viên văn hóa và giải trí

388

372

368

359

335

316

269

244

 

Tại các trường học dành cho trẻ em học nghệ thuật, âm nhạc và vẽ

 

13 090

 

13 545

 

13 863

 

14 361

 

14 781

 

14 389

 

 

13 848

 

 

 

15 312

Nguồn: Ủy ban thống kê nhà nước cộng ḥa Azerbaijan, 2008.

 Hiện tại không có chương tŕnh đặc biệt nào nhằm để kích thích việc làm trong ngành văn hóa. Điều này là do thực tế việc làm trong ngành văn hóa ít hơn nhiều khi so sánh với các ngành khác. Vấn đề là không phải có nhiều người bị thất nghiệp với thu nhập thấp mà là vấn đề về địa vị xă hội đối với những người làm việc trong ngành văn hóa cũng như giảm về nhu cầu của khách hàng đối với các sản phẩm văn hóa. Lương của công nhân ở mức trung b́nh làm việc trong các học viện văn hóa công cộng là 148 AZN trên một tháng (1 EUR= 1.2 AZN).

4.2.8. Công nghệ mới và các chính sách văn hóa

Việc thực hiện cung cấp thông tin cập nhật và các công nghệ thông tin trong lĩnh vực văn hóa là một trong nhưng ưu tiên hàng đầu khi thực hiện chính sách văn hóa quốc gia của nước Azerbaijan. ‘’ Chương tŕnh 2004-2008 về Phát triển công nghệ truyền thông và thông tin của nước cộng ḥa Azerbajian (Electron Azerbajian) được Chính phủ thực hiện. Chú ư đặc biệt trong Chương tŕnh của Electron Azerbajian được giành cho sự phát triển và thành lập của các trung tâm đào tạo thông tin trong khu vực và các địa điểm quán Internet, tại các thư viện và các trường học địa phương nhằm để mở rộng điểm tiếp cận các nguồn thông tin. Một kế hoạch đặc biệt của các hoạt động đang được kỹ thuật số hóa, bảo tồn và tuyên truyền về các di sản văn hóa quốc gia qua việc tạo dựng cơ sở dữ liệu tương ứng và lập các trang web và qua việc hiện đại hóa hệ thống thông tin trong thư viện. Tóm lại, nhà nước cung cấp tất cả các biện pháp cần thiết để có được tất cả các nền văn hóa  có công nghệ mới. Những biện pháp này bao gồm các biện pháp phục vụ cho đào tạo lâu dài và các các biện pháp hỗ trợ cho các nghệ sỹ làm việc với công nghệ mới.

4.2.9. Các vấn đề về di sản và các chính sách

Chính phủ đă sử dụng một danh sách các đài tưởng niệm được nhà nước bảo vệ trong tháng 8 năm 2001 bao gồm kiến trúc, khảo cổ học, vườn và công viên. Danh sách xếp hạng các đài tưởng niệm dựa theo tầm quan trọng của nó ở cấp độ thế giới, quốc gia hoặc địa phương. Các công tŕnh có giá trị bậc thế giới hoặc quốc gia có thể được tư nhân hóa. Các công tŕnh dân cư có giá trị cấp địa phương hoặc các căn hộ thuộc trong các công tŕnh có thể tư nhân hóa có sự thống nhất của Bộ văn hóa và du lịch. Nếu như công tŕnh hoặc căn hộ thuộc sở hữu của tư nhân th́ các chủ đầu tư có được những hợp đồng bảo vệ cấm bất cứ sự thay đổi đối với đài tưởng niệm nguyên bản.

Bảng 3: Danh sách các đài tưởng niệm được nhà nước bảo vệ năm 2001

 

Loại đài tưởng niệm

Tầm quan trọng

Tổng cộng

Thế giới

Quốc gia

Địa phương

Kiến trúc

21

359

3 480

3860

Khảo cổ học

44

1616

384

2044

Vườn và công viên chính thức

-

59

137

196

Nghệ thuật trang trí và ứng dụng (tượng......)

-

-

208

208

Tổng cộng

65

2034

4209

6308

Nguồn: Bộ văn hóa và du lịch, 2008

Các công tŕnh phục hồi và bảo tồn được thực hiện một cách chung chung có sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước và các cấp chính quyền địa phương cũng như có sự hỗ trợ từ các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài. Một ví dụ điển h́nh là sự phục hồi nhà thờ nhỏ của người Đức (‘’ Kapelhaus’’) tại Baku được Chính phủ Đức cung cấp tài chính hoàn toàn. Các công tŕnh khảo cổ học và phục hồi trong chùa Christian của các thế kỷ V-VI, trong làng Kish gần thành phố Sheki được các tổ chức phi chính phủ tại Na-uy hộ trỡ.

Thành phố Walled của Baku có cung điện Shirvanshakhs và tháp Maiden (2000) và Di sản văn hóa nghệ thuật đá Gobustan (2007) được nằm thêm trong Danh sách di sản văn hóa thế giới. Số lượng các đài tưởng niệm đă được đệ tŕnh lên Danh sách tốp 10: Surakhany, Atashgyakh. (Lửa- những người tôn sùng, Chùa- bảo tàng tại Surakhany) (1998). Lăng Nakhinchevan (1998), Hyrkan State Reservation (1998), Trầm tích thực vật và động vật giai đoạn 4 ‘’Binegadi’’ (1998), Nón bùn ‘’Lok-Batan’’ Mud Cone (1998), Núi ‘’ Giai đoạn Baku’’ (1998), Caspian Shore Defensive Constructions (2001), Khu bảo tồn khảo cổ và lịch sử Susha (2001), Khu bảo tồn khảo cổ và lịch sử Ordubad (2001) và  Sheki, Cung điện của Khan (2001). Bộ văn hóa và du lịch của nước cộng ḥa Azerbaijan đă tham gia vào Hệ thống Di sản châu Âu và vừa mới đệ tŕnh bản hồ sơ chính sách di sản quốc gia.

Chính phủ chú trọng đặc biệt đế ǵn giữ, phục hồi và hỗ trợ di sản văn hóa bao gồm văn hóa dân gian như âm nhạc và khiêu vũ, rạp hát quần chúng và các thể loại truyền thống văn học nói), nghề thủ công như nghệ thuật trang trí, nghe nh́n và ứng dụng kiểu truyền thống) và văn hóa dân tộc như truyền thống dân tộc, truyền thuyết, tṛ chơi...... Bản phác thảo ‘’ Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể Azerbaijian’’ được Thành viên nội các chính phủ của nước cộng ḥa Azerbaijian xem xét. Việc giám sát di sản văn hóa phi vật thể Azerbaijan, cung cấp bộ máy luật pháp, hành chính, tài chính, thông tin, nhân sự, cơ sở hạ tầng và ngoại giao khi xét đến ở cấp độ ở địa phương và trung ương nằm trong “Chương tŕnh về sáng tạo của nhân dân cho năm 2010-2014” đă được Bộ trưởng Bộ văn hóa và du lịch của nước Cộng ḥa Azerbaijian’’ phê duyệt. Theo như chương tŕnh, Kế hoạch hành động liên quan sẽ được tiến hành tại các thành phố đă được công bố như “Dân gian Azerbaijian’’, “Tinh thông Azerbaijian’’ và “Truyền thuyết dân gian của Azerbaijian’’ trong khoảng những năm đă được đề cập ở trên. Một ngân hàng thông tin đang được tạo dựng về các chủ đề như người điều khiển, người biểu diễn, người tập hợp, nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ và cơ cấu tư nhân của các di sản văn hóa phi vật thể.

Azerbaijian Mugham (2003), Nghệ thuật Ashiq Azerbaijian (2009) và Novruz (đa quốc gia: Azerbijian- Ấn Độ- Iran (Cộng ḥa Islamic)-Kyrgyzstan-Uzbekistan-Pakistan-Turkey (2009) được nằm thêm trong danh sách đại diện di sản phi vật thể- Kế hoạch hành động quốc gia có liên quan đă được thiết kế và đang được tiến hành dưới sự giám sát của ông Mehriban Aliyera, Người phụ nữ đầu tiên của Azerbijian, Tổng thống Hiệp hội Heydar Aliyev’’ và những người bạn của Hiệp hội văn hóa Azerbaijian nhằm để bảo đảm an toàn cho các đài tưởng niệm di sản văn hóa phi vật thể của Azerbijian.

Hiện tại có 197 bào tàng (lịch sử-37, đài tưởng niệm- 41, truyền thuyết về địa phương-69, nghệ thuật -39..... và 35 pḥng triển lăm tranh được Bộ văn hóa và du lịch giám sát. Bằng việc tập trung vào tất cả các lĩnh vực của di sản văn hóa của một quốc gia và tăng số lượng các cuộc triển lăm đă phản ánh và rút ra được kinh nghiệm tổng hợp của con người nên các bảo tàng đă vượt qua khó khăn của công đồng, khuyến khích cộng đồng tham gia và thúc đẩy văn hóa của Azerbaijian. Chính sách ưu tiên cho bảo tàng của nhà nước cũng như việc tạo dựng cơ sở dữ liệu trên máy tính một cách tập trung nhằm phục vụ cho việc tiếp cận thông tin trong bộ sưu tầm và các hoạt động của bào tàng; có được những thủ tục đăng kư đạt tiêu chuẩn hiện đại; phát triển quảng bá bào tàng; giúp bào tàng có được vai tṛ lớn hơn trong sự phát triển du lịch văn hóa và cải thiện hệ thông an ninh và bảo về trong các bảo tàng.....

4.2.10.  B́nh đẳng về giới và các chính sách văn hóa

Liên quan đến vấn đề về b́nh đẳng giới, văn hóa tại Azerbaijian, cũng như giáo dục theo truyền thống th́ “ nữ giới’’ có vị trí trong xă hội. Phần lớn người làm trong các thư viện, bảo tàng, văn thư lưu trữ, các trường học nhạc, rạp hát đều là nữ giới. Những người này cũng tham gia một cách tích cực vào việc quản lư văn hóa. 70% người làm việc về văn hóa trong hệ thống Bộ văn hóa và du lịch đều là nữ. Sự hiện diện của nữ giới có vai tṛ quyết định chính trong các học viện văn hóa và có vị trí quan trọng của chính sách văn hóa. Hiện nay giữ chức vụ phó Bộ trưởng văn hóa và du lịch, hai người đứng đầu các ban và 6 người đứng đầu nghành trong bộ máy của Bộ là nữ giới. 14 người đứng đầu hành chính địa phương và các ban văn hóa và du lịch và các giám đốc các học viện văn hóa và các tổ chức cũng đều là nữ giới.

Ủy ban nhà nước về các vấn đề của gia đ́nh, phụ nữ và trẻ em được thành lập trên cơ sở của Ủy ban nhà nước cộng ḥa Azerbaijian về các vấn đề của phụ nữ theo Nghị định của Tổng thống ngày 6/1/ 2006.

Gần đây có xu thế nữ giới tăng nhanh ở nhà nước cộng ḥa Azerbaijian. Một số các tổ chức đặc biệt đă được thành lập trong các lĩnh vực văn hóa. Ví dụ như “ Phụ nữ trong âm nhạc’’, “Hiệp hội phụ nữ sáng tạo’’ Toàn bộ các tạp chí cho phụ nữ và về phụ nữ đang được xuất bản.

4.3 . Các vấn đề liên quan khác và tranh luận

Một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển chính sách văn hóa quốc gia là mâu thuẫn giữa Armenia- Azerbaijian, Nagorno-Karabakh (chi tiết về vị thế của Chính phủ Azerbaijian có thể được t́m thấy trên trang web: http:/mfa.gov.az/eng/khojaly_en/index.php). Khi xét đến tính đầy đủ toàn vẹn lănh thổ của Azerbijian th́ tầm quan trọng của việc giải quyết ḥa b́nh cho mâu thuẫn này đă được phản ánh trong các nghị quyết của Hội đồng An Ninh Liên Hợp Quốc Số 822, Hội đồng chung châu Âu (Số 1119, 1416 và Hướng dẫn số 1690) cũng như những nghị quyết của OIC; Nghị quyết của ISESCO; Những tuyên bố của Liên minh châu Âu; Quyết định của NACC và những tài liệu quốc tế khác.

5. Những điều khoản luật pháp chính trong lĩnh vực văn hóa

5.1. Pháp chế chung

5.1.1. Hiến pháp

Theo như cuộc chưng cầu ư dân ngày 12/11/1995 , Hiến pháp mới của nước cộng ḥa Azerbaijian được áp dụng và có hiệu lực vào ngày 5/12/1995. Luật cơ bản của nhà nước đă được phát triển theo các quy tắc chính và các tiêu chuẩn của luật quốc tế. Có một số lượng các điều khoản trong Hiến pháp trực tiếp quan tâm đến lợi ích của các nghệ sỹ và những người làm việc về văn hóa. Luật quan trọng nhất là “ Quyền sở hữu trí tuệ’’ (Chương III, Điều 47); ‘’ Tự do thông tin’’ (Chương III, Điều 50) “Tự do sáng tạo’’ (Chương III, Điều 51), “ Bảo vệ các đài tượng niệm lịch sử và văn hóa’’ (Chương IV, Điều 77).

5.1.2. Sự phân chia quyền lực pháp lư

Sự phân chia thẩm quyền pháp lư văn hóa giữa các nhà thẩm quyền trung ương và địa phương được cung cấp trong Hiến pháp của nước Cộng ḥa Azerbijian, và trong Điều 124 thuộc Quyền lực điều hành địa phương chỉ ra rằng “Quyền điều hành địa phương phải được thực hiện do Người đứng đầu quyền thi hành được chỉ định bởi Tổng thống nước Cộng ḥa Azerbaijian và loại bỏ không nằm trong vị trí chủ chốt. Cơ quan thẩm quyền của Quyền thi hành địa phương phải được quyết định bởi Tổng thống nước Cộng ḥa Azerbaijian.’’

Điều 4 của Luật văn hóa trong “ Quốc thư dành cho học viện của chính quyền địa phương thuộc lĩnh vực văn hóa’’ nêu ra rằng: “ Các học viện thuộc chính quyền địa phương đưa ra các điều kiện nhằm thực hiện một cách tự do tất cả các quyền và các quyền tự do sau này nằm thuộc bộ luật này. Các quy tắc thuộc ngành thẩm quyền pháp lư văn hóa giữa các nhà thẩm quyền trung ương và địa phương cũng đă được cụ thể trong Bộ Luật của Bộ văn hóa và du lịch và Luật quyền thi hành của địa phương của nước Cộng ḥa Azerbaijian đă được thẩm định bởi Các sắc lệnh của Tổng thống liên quan.”

5.1.3. Cấp vốn chung

Tất cả các học viện văn hóa nên được chi trả nguồn tài chính từ ngân sách của nhà nước và của văn hóa địa phương cũng như từ chính nguồn vốn của họ (các dịch vụ văn hóa được thanh toán) theo như Luật Văn hóa. Sự cấp vốn được nhà nước thực hiện nên tăng cường vào hàng năm trong đó có một điều kiện được cố định bởi luật pháp. Các nguồn tăng thêm được tổng hợp trong ngân quỹ quốc gia và chi cho văn hóa và được thiết lập bởi các cơ quan của các học viện văn hóa khác nhau. Các cơ quan địa phương tự quản lư, các liên hiệp công cộng, các cơ quan luật pháp cũng có thể gây tạo quỹ để hỗ trợ cho các hoạt động văn hóa.

5.1.4.  Khuôn khổ an ninh xă hội

Theo như Hiến pháp tất cả các công dân của nước cộng ḥa Azerbaijian đều có quyền bảo vệ xă hội (Chương III, Điều 37). Các phúc lợi xă hội  như bảo hiểm y tế, tai nạn nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp và trợ cấp đều được thuyết minh trong các bộ luật như Luật việc làm (tháng 7/2001), Luật bảo hiểm xă hội (Tháng 2/ 1997), Luật bảo hiểm y tế (Tháng 10/1999), Luật về bảo đảm trợ cấp cho người dân (Tháng 9/1992), Luật về pḥng chống tàn tật, phục hồi và bảo vệ xă hội người tàn tật (tháng 8/1995), Luật y tế (tháng 6/1997); các nghị định của Tổng thống như Nghị định về tăng thêm các biện pháp hỗ trợ xă hội (1992), Nghị định về nhận biết chương tŕnh phức tạp về các vấn đề của những người tàn tật (Nghị định  của Quan chức nội các, 1994), Nghị định về cung cấp tài chính để thực hiện các biện pháp cho an ninh xă hội, Trợ cấp và Cấp vốn cho những người tàn tật, thất nghiệp (2002), Nghị định về các biện pháp hướng tới cải thiện hệ thống trợ cấp của nhà nước (2003), Nghị định về tăng tiền trợ cấp (2003), Nghị định về mở rộng lương cho 50% nghệ sỹ (2003). Luật về văn hóa cũng đưa ra các biện pháp an ninh xă hội cho những người làm việc về văn hóa. Điều này áp dụng cho những người làm việc sáng tạo và bao gồm cả những điều khoản cải thiện những điều kiện làm việc của các họa sỹ và các nhà khoa học như họa sỹ và nghệ nhân điêu khắc có được không gian làm việc dưới những điều kiện thuận lợi như giá thuê thấp. Mức lương cho các học viện văn hóa có chế độ của nhà nước cũng thuộc các trường hợp trên khi không hưởng các chế độ của nhà nước. Những người làm việc mà tham gia tích cực vào sự phát triển của quốc gia và phục vụ lâu dài có thể được nhận tiền trợ cấp đặc biệt sau khi nghỉ hưu.

5.1.5. Luật thuế

Chính sách thuế là một trong những yếu tố chính để thu hút các quỹ và đầu tư cho ngành văn hóa. Mă thuế thành phần tiến bộ nhẩt đă được áp dụng cho tỷ lệ thuế đơn giản hóa có hiệu lực từ ngày 1/1/ 2001, Điều 219.2 của Bộ luật chỉ ra rằng ‘’ Các công ty thanh toán tiền thuế theo hệ thống đơn giản hóa phải có trách pháp lư cho Thuế giá trị gia tăng VAT, thuế thu nhập, thuế nhà đất hoặc thuế sở hữu’’. Điều này áp dụng cho các công ty có vốn quay ṿng theo quư ( ba tháng) ít hơn 22 500 AZN (1 AZN= 0.9 Euro).

Kể từ tháng 1 năm 2006 các doanh nghiệp có vị trí nằm ngoài thủ đô Baku phải thanh toán thuế có giá trị 2% và những doanh nghiệp đă đăng kư tiền vốn có 4 % trong số tổng số vốn quay ṿng. Việc đăng kư các doanh nghiệp được đệ tŕnh cho ngành thuế và thường có hiệu lực trong ṿng 3 ngày.

Cũng tương tự như tất cả các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi th́ cơ quan luật pháp về thuế của Azerbaijian cũng đang trong giai đoạn thành lập. Những thay đổi và bổ sung vào Bộ luật có hiệu lực vào mọi năm và một trong những kết quả của sự thay đổi đó là số lượng các học viện văn hóa có trách nhiệm pháp lư thanh toán VAT và thuế thu nhập cá nhân đă tăng lên có những hiệu quả  một cách tích cực và có quan trọng đối với hoạt động của họ. Thuế thu nhập và phí an ninh xă hội đă được giảm. Bắt đầu trong năm 2008, hệ thống tŕnh điện tử của các khai báo về thuế do những  cơ quan và cá nhân địa phương thành lập.

Theo Nghị định của Tổng thống về tăng thêm các biện pháp trong Điều khoản của nhà nước về sự phát triển doanh nghiệp của nước Cộng ḥa Azerbaijian (Tháng 9 năm 2002) có những bước sau đây xảy ra từ  ngày 1/2/2003:

·         Giảm thuế theo từng loại

·         So sánh các loại thuế cho phạm vi và khu vực

·         Mở rộng phạm vi áp dụng hệ thống thuế đơn giản hóa; và

·         Giảm các loại thuế cung cấp xă hội

Tất cả những biện pháp này tạo nên cơ sở cho sự phát triển sau này của chính sách thuế trong lĩnh vực văn hóa.

5.1.6. Luật lao động

Việc làm trong lĩnh vực văn hóa được quy định bởi Hiến pháp của nước Cộng ḥa Azerbaijian (1995, Bộ luật lao động của Nước Cộng ḥa Azerbajian (1/1999), Luật việc làm của nước cộng ḥa Azerbaijian (tháng 7 năm 2001) và Luật văn hóa của nước cộng ḥa Azerbaijian (tháng 4 năm 1998). Hệ thống liên kết các mức lương  có tại chỗ dành cho những người làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của ngành công cộng. Các mối quan hệ giữa người chủ và người lao động được dựa trên hệ thống của hợp đồng thường có cơ sở ngắn hạn hoặc lâu dài). Hợp đồng tổng hợp được kư kết giữa người chủ và liên minh thương mại. Khi xét đến sự vắng mặt của liên minh thương mại th́ tập thể sẽ kư hợp đồng. Liên minh thương mại, Hợp tác xă, người chủ, cơ quan quản lư và đại diện cho những ông chủ có thể ưu tiên kư hợp đồng. Sự đàm phán liên quan đến kư hợp đồng có thể được liên minh thương mại nâng cấp hoặc xét đến sự vắng mặt th́ tập thể làm việc có thể thành lập một  Ủy ban v́ mục đích này. Việc làm của những người làm trong nhà nước tại tất cả các cấp độ được ‘Luật dịch vụ nhà nước ( tháng 9 năm 2001).

Cũng xem Chương 5.1.4

5.1.7. Các điều khoản bản quyền

Những quy tắc chính của Bản quyền và các quyền liên quan có hiệu lực vào ngày 8/11/1996 đều được thi hành tại các nước châu Âu. Trước tiên nó có khái niệm ‘’ lục địa’’ của bản quyền được coi như một quyền cá nhân có xu hướng thuộc Cái nh́n Anglo-Saxon  nhấn mạnh phần thương mại của bản quyền. Thứ hai, thuật ngữ “tác giả’’ được dịch một cách rộng răi v́ nó có các tiêu chuẩn bảo vệ bản quyền cao tại những nước khác. Trong lĩnh vực nghe nh́n th́ nguồn tác giả không giới hạn đối với Giám đốc, người viết kịch bản phim và người soạn nhạc và mở rộng cho người quay phim cũng như những người thiết kế.

Bộ luật cũng vạch rơ những quyền liên quan, quyền người biểu diễn và các quyền của những sản xuất ghi âm và những cơ quan phát thanh như Truyền h́nh và Phát thanh. Những quyền được thừa kế cũng được thừa nhận trong khoảng thời gian 50 năm sau cái chết của tác giả. Việc thanh toán cân đối loại duy nhất được cung cấp mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho các tác giả và người c quyền khác. Duy chỉ tỷ lệ nhỏ nhất được Nhà nước thanh toán cố định và những phương pháp thanh toán có thể được đàm phán giữa những người nắm quyền và những người sử dụng những tác phẩm của họ.

5.1.8. Luật bảo vệ dữ liệu

Các bản dịch, nguồn tác giả và các tác phẩm tổng hợp đều được Luật bản quyền và các quyền liên quan (ngày mồng 8/10/1996) bảo vệ khi chúng là những chương tŕnh máy tính và cơ sở dữ liệu Luật của nước cộng ḥa Azerbaijian về cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin có hiệu lực vào tháng 6 năm 1998 xác định rằng chính sách của nhà nước về các hệ thống thông tin, các thể loại, cách thức và h́nh thức tổng hợp vả sử dụng thông tin. Luật của nước cộng ḥa Azerbaijian về lưu trữ quốc gia ( tháng 6 năm 1999) cũng quy định lĩnh vực hoạt động này.

5.1.9. Luật ngôn ngữ

Sau khi giành được độc lập, ngôn ngữ của Azerbaijian được công nhận là ngôn ngữ của nhà nước trong Hiến pháp năm 1995 và các điều kiện được tạo ra phục vụ cho việc sử dụng lan rộng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống. Luật nước cộng ḥa Azerbaijian về Phương tiện truyền thống đại chúng (tháng 1 năm 2000) xác định rằng:  “ Không có giới hạn về ngôn ngữ nào được áp dụng cho thông tin đại chúng trong lănh thổ của nước cộng ḥa Azerbaijian (Điều 6). Luật về Ngôn ngữ quảng cảo của nhà nước (tháng 11 năm 1997) xác định quảng cáo trong lănh thổ nước cộng ḥa Azerbaijian phải sử dụng ngôn ngữ quốc gia có sử dụng các ngôn ngữ khác khi cần thiết.

Cũng xem chương 4.2.2 

5.2. Pháp lệnh về văn hóa

Nước Azerbaijian là nước đa văn hóa và do vậy tất cả các luật về văn hóa nhằm một mục đích làm thỏa măn đa phần yêu cầu văn hóa. Một số bộ luật là tổng hợp (ví dụ như: Bộ luật văn hóa năm 1998), những bộ luật khác được cụ thể hơn như các bộ luật kỹ thuật quay phim, kế hoạch thị xă, bảo tàng và xuất bản). Bộ luật văn hóa đưa ra các quy tắc và mục đích của chính sách nhà nước và đưa ra các nhiệm vụ của Chính phủ và cơ quan địa phương có thẩm quyền trong khu vực này. Nó bảo đảm các quyền cá nhân tham gia vào hoạt động sáng tạo, thúc đẩy quá tŕnh liên lạc và hợp tác quốc tế, ngăn cản nhà nước văn hóa độc quyền và có sự bảo về và phát triển đa dạng văn hóa và di sản Azerbaijian và các dân tộc thiểu số hiện tại có ở trong vùng lănh thổ này. Nó cũng đưa ra các biện pháp thúc đẩy sự sáng tạo và các hoạt động các đại lư công cộng và các tổ chứ làm việc trong lĩnh vực văn hóa. Sự can thiệp của nhà nước nhằm để giới hạn việc cấm bất cứ hành động nào khiêu dâm hoặc khuyến khích bạo lực, chủng tộc, không tha thứ cho tôn giáo hoặc quốc gia hay nghiện ngập.

Những luật cấm này được tiếp sau đó các sắc lệnh pháp lư có hiệu quả. Tất cả những h́nh thức khác của sự can thiếp của nhà nước trong hành động văn hóa được cấm. Nhiều lĩnh vực trong chức năng, cấp quỹ và phát triển văn hóa và các học viện văn hóa cũng được bộ luật quy định hiện nay dưới sự tham gia của Ủy ban văn hóa của Mili Melis (Quốc hội) để phản ánh những xu hướng mới.

5.3. Luật pháp cụ thể cho ngành

5.3.1. Nghệ thuật nghe nh́n và ứng dụng

Luật của nước cộng ḥa Azerbaijian về bảo vệ và phát triển nghệ thuật thảm Azerbaijian được Tổng thống nước Cộng ḥa Azerbaijiam kư vào tháng 12 năm 2004. Bộ luật quy định các mối quan hệ làm nổi bật trong suốt quá tŕnh bảo vệ, nghiên cứu và thúc đẩy nghệ thuật thảm được kiến tạo trong lănh thổ lịch sử của Azerbaijian và trong cách dệt bằng tay của những người làm thủ công, nghệ nhân và nghệ sỹ nghệ thuật ứng dụng.

5.3.2. Nghệ thuật biểu diễn

Luật cho rạp hát và các hoạt động của rạp hát được Bộ Văn hóa và Du lịch ưu tiên và có hiệu lực vào tháng 12 năm 2006 thiết lập một học Viện đào tạo những người sản xuất các rạp hát và mang lại sự thúc đẩy mới cho sự phát triển và cải cách cơ sở hạ tầng của rạp hát Azerbaijian giàu lịch sử có giá trị 135 năm.

5.3.3. Di sản văn hóa

Luật về bảo vệ bảo vệ đài kỷ niệm văn hóa và lịch sử (1998) đưa ra những vấn đề cụ thể chi tiết những trách nhiệm của nhà nước và các cấp chính quyền địa phương và đưa ra các quy tắc cho việc sử dụng, nghiên cứu, bảo tồn, phục hồi, tái xây dựng, đổi mới và sự an toàn cho các đài kỷ niệm. Bộ luật xác định những vật thể về văn hóa mang cấp quốc gia: những đài kỷ niệm văn hóa và lịch sử, sản phẩm văn hóa có trong các bảo tàng, lưu trữ, bệnh viện nhà nước cũng như những lănh thổ nơi có chúng và không thuộc của tư nhân. Bộ luật về các bảo tàng (2000) quy định những mối quan hệ giữa các bảo tàng và nhà nước. Bộ luật này đưa ra những nhiệm vụ, chức năng, đặc quyền và quyền của hai bên và đưa ra những quy tắc chi tiết cho hoạt động của bảo tàng, thúc đẩy sự bảo vệ, bảo tồn, phát triển và làm giàu bộ suy tập của bảo tàng và cải thiện vị thế an ninh xă hội của những người làm việc trong bảo tàng. Những yêu cầu mới quan tâm đến ǵn giữ và sử dụng lưu trữ quốc gia, nhu cầu quyết định vị thế sở hữu nhà nước và những lưu trữ và tài liệu ngoài nhà nước và sự vắng mặt của bất cứ cơ sở pháp lư nào cho sự quản lư và sử dụng nguồn trí tuệ lớn, tất cả là nguồn cảm hứng chính cho Quỹ lưu trữ quốc gia (1999). Luật về việc bảo vệ các mẫu văn học dân gian Azerbaijian (2003) bảo vệ nhạc quốc gia, khiêu vũ, rạp hát nhân dân, văn học truyền miệng ....  của Azerbaijian đều có bản quyền thuộc về người dân Azerbaijian.

5.3.4. Văn học và thư viện

Luật của nước cộng ḥa Azerbaijian về thư viện (1998) nhằm cải thiện tổ chức các thư viện, giúp thư viện thêm hiệu quả và hữu ích và mở rộng thư viện và các dịch vụ thông tin cho cuộc sống của người dân trong khu vực vùng nông thôn. Hơn nữa, nó c̣n giúp phát triển tiềm năng trí tuệ của cộng đồng và đóng góp vào sự tiến bộ của văn hóa kiến thức. Nó cung cấp cơ sở mang tính pháp lư mà các thư viện yêu cầu một cách hiệu quả và để cải thiện cũng như cập nhật những phương pháp làm việc của họ. Mục đích nhằm gắn kết những quy tắc nhưng để thay địa chỉ hoàn toàn dựa theo t́nh h́nh chính trị và kinh tế mới. Bộ luật đề ra những quy tắc của chính sách nhà nước về thư viện, cung cấp một cơ sở chung cho hệ thống thư viện, quy định sự thành lập và vận hành các thư viện và có cấp quỹ cũng như các quyền của công cộng quan tâm đến sử dụng các thư viện và các quy tắc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

5.3.4. Kiến trúc và môi trường

Việc xây dựng kiểu tiêu cực có xu hướng không độc lập trong những năm đầu đă có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng về kiến trúc và thẩm mỹ của các thành phố, thị trấn và  điểm dân cư của Azerbaijian. Điều này là nội dung cơ bản của Luật kiến trúc (1998)Luật quy hoạch thị xă (1999). Cả hai bộ luật này được thiết lập để ngăn cản chiều hướng đi xuống v́ sự thiếu tính kiểm soát hoàn toàn để điều ḥa về mặt kiến trúc và bảo vệ các thế hệ trong tương lai, di sản kiến trúc qua hàng thế kỷ mà đă tạo nên nét độc đáo cho các thành phố Azerbaijian. Để đảm bảo được nét độc đáo này phải được ǵn giữ và nâng cấp th́ Bộ luật phải cho phép những người nước ngoài hoặc các cơ quan nước địa phương nhận biết được các dự án kiến trúc mà chỉ hợp tác với các quốc gia và các cơ quan pháp lư Azerbaijian. Luật quy hoạch thị xă nhằm phân phối dân số, đưa ra những tiêu chuẩn xây dựng và quy hoạch vùng thành thị và lănh thổ và quy định sự bảo tồn của các đài kỷ niệm lịch sử, văn hóa và tự nhiên. Cả hai bộ luật đều nhằm mục đích phát triển kiến trúc bền vững và hài ḥa và có được những giải pháp hiệu quả chó những vấn đề quản lư của thành phố.

5.3.6. Phim, video và ảnh

Luật của nước cộng ḥa Azerbaijian về kỹ thuật ghi h́nh (1998) đưa ra cơ sở pháp lư cho kỹ thuật ghi h́nh như là một dạng đặc biệt của nghệ thuật. Nguồn cung cấp của Nhà nước, các quyền và trách nhiệm của các cơ quan pháp lư được Bộ luật này đưa ra. Trong luật này có một cơ sở chặt chẽ cho nghành công nghiệp phim quốc gia, quy định cung cấp vốn nhà nước và có được các biện pháp để thúc đẩy sự phân phối các bộ phim của Azerbaijian và sự tham gia vào các lễ hội quốc tế. Nó cũng đưa ra các giải pháp pháp lư cho những vấn đề điều hành tổ chức nghành phim. Vào tháng 10 năm 1999 Luật về tham gia công ước của châu Âu khi sản xuất phim được Tổng thống nước Cộng ḥa Azerbajian áp dụng. Tài liệu cung cấp nhiều cơ hội lớn cho sự hợp tác với các nước châu Âu trong lĩnh vực kỹ thuật ghi h́nh và là một ví dụ điển h́nh cho những sáng kiến mới.

5.3.7. Công nghiệp văn hóa

Không có bộ luật nào bao quát được toàn bộ lĩnh vực nghành văn hóa một cách  trọn vẹn tại nước cộng ḥa Azerbajian. Bộ luật xuất bản (2000) được thiết kế nhằm thay thế cho những thiếu sót trong ngành xuất bản và in ấn và để ngăn ngừa việc cung cấp thiếu một bộ luật toàn diện trong ngành này. Mục đích trung tâm là để phục hồi ngành công nghiệp xuất hiện của quốc gia. Bộ luật này xác định những quy tắc chính của chính sách nhà nước vạch rơ những nhiệm vụ của nhà nước xác định những định hướng cao nhất cho tổ chức và vận hành các hoạt động xuất bản và in ấn và đưa ra các quy tắc để quản lư các quan hệ giữa những người vận hành trong lĩnh vực này. Được tổng hợp trong các thực thi kinh tế của t́nh h́nh của quốc gia và thực thi trong định hướng toàn bộ, nó nắm giữ lời hứa cho ngành xuất bnar và in ấn của Azerbijian.

5.3.8. Truyền thống đa phương tiện

Luật mới về truyền thông đa phương tiện từ năm 2000 và xác định tổ chức truyền h́nh và truyền thanh của Chính phủ và Phi Chính phủ có các quyền công bằng và trách nhiệm để tiến hành lập chương tŕnh, không kể h́nh thức sở hữu, vị thế tổ chức và pháp lư. Không có giới hạn về ngôn ngữ nào cho lĩnh vực truyền thông thuộc vùng lănh thổ của Azerbaijian. Ngoài ngôn ngữ của quốc gia th́ người dân Azerbajian có thể được sử dụng ngôn ngữ khác. Các đài phát thanh truyền h́nh của Azerbajian phát sóng các chương tŕnh tại Azerbajian , Nga và Anh. Các trạm đài phát thanh tại Azerbaijian cũng tạo ra chương tŕnh tại Georgian, Lezghin, Talish và Kurdish.

Tổng thống nước Cộng ḥa Azerbajian đă kư hai sắc lệnh trong suốt năm 2001: “ Đối việc tăng hỗ trợ của nhà nước đối với truyền thông đa phương tiện’’ (tháng 7) và ‘’ Đối với các biện pháp tăng thêm liên quan đến việc tăng tính hỗ trợ của nhà nước cho truyền thông đa phương tiện’’ (tháng 12). Các biện pháp được xác định bao gồm:  loại bỏ thuế nhập khẩu về giấy in báo, các cơ sở vật chất tín dụng ưu tiên và vốn dài hạn cho sự phát triển của phương tiện truyền thống, các biện pháp tăng cường thúc đẩy sự mở rộng của TV độc lập và truyền h́nh phát thanh trên đài cũng như điều tiết truyền thanh của các công ty truyền thanh nước ngoài trong lănh thổ quốc gia, sự rà soát các thuế được đánh thuế đối với báo chí và các công ty phát thanh và truyền h́nh tư nhân và các trang thiết bị in ấn cho các báo chí tư nhân trong những nhà in nhà nước.

Trong tháng 6 năm 2002 Luật truyền h́nh phát thanh và báo chí mới được đưa ra những quy định và tổ chức những sự kiện này cũng như những mối quan hệ pháp lư giữa nhà nước và các chủ đầu tư của công ty phát thanh tư nhân.

Cũng xem chương 4.2.5

5.3.9. Pháp lệnh cho những nghệ sỹ tự làm chủ

Khi trở nên độc lập, Azerbajian đă chọn là nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp tự do là một thành phần trung tâm trong thị trường này và một chương tŕnh tư nhân quốc gia được thực hiện thành hai giai đoạn. Sự thành lập của nền kinh tế thị trường ở Azerbajian cần thiết để xem xét lại về an ninh xă hội và áp dụng toàn bộ chiến lược phúc lợi mới. Trong một thời gian ngắn, trên mười bộ luật mới được thông qua và mở rộng an ninh xă hội đến đại đa phần người dân. Mặc dù không có điều khoản pháp lư đặc biệt nào đối với những làm việc trong lĩnh vực văn hóa cũng như một nhóm chuyên nghiệp riêng biệt tại Azerbajian và nói chung những hoạt động chính của họ được quy định bởi luật pháp đối với các doanh nghiệp tư nhân. Có một số lượng các điều khoản tại các Hiến pháp và Luật văn hóa mà trực tiếp quan tâm và bảo vệ những lợi ích của họ.

Cũng xem chương 5.1.5

5.3.10. Những lĩnh vực khác của pháp lư liên quan

Luật về du lịch (1999) là trong số những phần được làm mới trong ngành văn hóa với những cải cách cơ cấu gần đây trong các thành viên nội các và tham gia vào ngành văn hóa du lịch mới thành lập Bộ văn hóa và du lịch. Mục đích chính là mang lại cho ngành du lịch có đầy đủ tiềm năng khi được xem xét dưới đến khía cạnh kinh tế và gắn kế hơn cho văn hóa và di sản văn hóa để giúp hai ngành phát triển cùng nhau trong một khuôn khổ các chương tŕnh và dự án du lịch văn hóa.

6. Ngân sách dành cho ngành văn hóa

6.1.  Khái quát

Sự phát triển bùng nổ kinh tế trong những năm gần đây và loại dầu mới được t́m thấy ở Azerbajian đă tạo nên sự phát triển đáng kể về ngân sách nhà nước cũng như tăng về mức chi tiêu và cấp vốn cho ngành văn hóa.

Chi phí cho ngành văn hóa trong năm 2008 thắt chặt 3% của ngân sách nhà nước với tổng số 11.060 600 000 AZN ( tỷ lệ chuyển đổi: 1 AZN (Azeri New Manat)= 0,9 Euro. Chi phí cụ thể cho văn hóa, nghệ thuật, nghệ thuật phim ảnh, phục hồi các đài tượng niệm, không tính phương tiện truyền thông đại chúng chiếm hơn 2,5 %. Nói một cách khác, hai con số này có thể được cụ thể: một cho tổng chi phí cho văn hóa và một cho chi phí trực tiếp do Bộ Văn hóa và Du lịch trực tiếp quản lư.

54,7% quỹ hiện nay được phân bố cho địa phương. Chính quyền địa phương và các ngành văn hóa trong khu vực hiện nay đang lập ra các sơ đồ chi phí văn hóa trong các khu vực (các huyện) của nước Cộng ḥa. Cũng nên chú ư rằng những nhân tố khách quan cũng rất có ư nghĩa ở cấp địa phương và khu vực khí có phần lớn phụ thuộc vào nhân dân chịu trách nhiệm và cũng như việc giám sát những cuộc biểu diễn- thái độ cho ngành văn hóa khác nhau một cách rộng răi.

Chi phí cho văn hóa được tập trung phần lớn cho thủ đô Baku. Với việc cấp vốn lâu dài th́ sự ưu tiên cũng giành cho các tổ chức theo tầm quan trọng quốc gia trong đó hầu hết được Baku vận hành.

Chi tiêu trung b́nh theo hộ dân vào các hoạt động văn hóa và hàng hóa không quá 3% trong tổng số ngân sách hộ dân.

6.2. Chi phí văn hóa công cộng theo đầu người

Sự phát triển kinh tế nhanh chóng tại Azerbajian ảnh hưởng đến sự tăng liên tục hàng năm chi phí văn hóa cho ngành văn hóa công cộng. Trong năm 2008, chi phí văn hóa theo đầu người có ước tính đến AZN 39.4 tương ứng với 3% trong tổng cho phí theo đầu người.

6.3. Bảng chi tiết chi phí văn hóa công cộng theo cấp Chính phủ

Bảng 4: Chi phí văn hóa công cộng cho văn hóa, nghệ thuật, nghệ thuật làm phim và sự phục hồi các đài tưởng niệm theo cấp Chính phủ (Bộ Văn hóa và Du lịch và những chi nhánh trong khu vực) tính theo AZN từ năm 2004- 2008.

 

Cấp Chính phủ

2004

2005

2006

2007

2008

2008 tính bằng %

Trung ương

6 852 000

10 245 000

12 968 100

20 395 400

31 191 247

45,3

Địa phương

10 199 600

15 500 000

20 572 000

30 378 100

37 571 127

54,7

Tổng cộng *

17 031 600

25 745 000

33 540 100

50 773 500

68 762 374

100,0

 

Nguồn: Bộ văn hóa và du lịch, Ngành kinh tế 2008

*            Chú ư rằng nguồn đầu tư tập trung thêm vào văn hóa và cơ sở hạ tầng về du lịch được tính đến 220 150 000 AZN trong năm 2008.

Tổng chi phí đang tăng một cách nhanh chóng như bảng thể hiện và nó được tập trung vào chi phí cho khu vực cũng phát triển nhanh một cách ổn định theo như Bộ luật Văn hóa. Chi phí cấp Trung ương đă phát triển đến mức 45,3 % trong những năm gần đây do thêm ngành du lịch và không có ngành này th́ sự cân bằng giữa chi phí cấp trung ương và địa phương tương ứng là 40% và 60%.

Bảng 5: Nguồn vốn đầu tư tập trung tăng thêm cho cơ sở hạ tầng du lịch và văn hóa công cộng tính bằng AZn năm 2004-2008.

Văn hóa và du lịch

 

2004

2005

2006

2007

2008

Nguồn vốn đầu tư

950 000

1 807 800

12 004 000

67 548 000

220 150 000

Nguồn: Bộ Văn hóa và Du lịch, Ngành kinh tế, 2008

Chú ư! Các nguồn đầu tư tập trung và ở địa phương trong ngành giáo dục văn hóa và du lịch (không có giáo dục nghệ thuật chuyên biệt và cao siêu) ước tính 39 760 800 AZN 2008.

Bảng 6: Các nguồn đầu tư tập trung và ở địa phương trong ngành giáo dục văn hóa và du lịch (không có giáo dục nghệ thuật chuyên biệt và cao siêu), năm 2004-2008

Giáo dục

2004

2005

2006

2007

2008

Trung ương

294 300

363 200

755 200

2 093 700

2 160 422

Địa phương

12 524 100

13 870 000

20 762 700

32 673 000

37 600 415

Tổng cộng *

12 818 400

14 235 200

21 517 900

34 766 700

39 760 837

Nguồn: Bộ Văn hóa và Du lịch, Ngành kinh tế, 2008

Chú ư: Tổng chi phí cho đầu tư tập trung của nhà nước cho văn hóa, nghệ thuật, giáo dục văn hóa nghệ thuật và du lịch, phương tiện truyền thông đại chúng được tính đến 47 523 400 AZN trong năm 2004 và 340 161 129 AZN năm 2008. Điều này thể hiện các cấp đă tăng 715% trong hơn 5 năm qua.

6.4. Chi tiết ngành

Bảng 7: Tổng chi tiết văn hóa của nhà nước: theo ngành tính theo AZN, 2008

Lĩnh vực/Miền/Miền phụ

Chi phí trực tiếp

Chuyển đổi

(chính quyền địa phương)

Tổng số

Các đài tượng niệm lịch sử

2 039 700

 

2 039 700

Bảo tàng

2 569 061

 

2 569 061

Thư viện

3 219 421

 

3 219 421

Doanh nghiệp biểu diễn rạp hát

10 267 270

 

10 267 270

Phim ảnh

6 308 537

 

6 308 537

Sự kiện văn hóa

8 123 422

 

8 123 422

TỔNG CỘNG (đối với văn hóa địa phương)

 

37 571 127

37 571 127

Hoạt động UNESCO

233 300

 

233 300

Du lịch văn hóa

6 295 000

 

6 295 000

Trung tâm nấu ăn quốc gia

99 423

 

99 423

Cấp vốn cho người làm trong văn hóa

601 920

 

601 920

Giáo dục

2 168 422

37 592 415

39 760 837

Quản lư

1 559 718

655 150

2 214 868

Đầu tư vốn

220 150 000

 

220 150 000

Khác

707 243

 

707 243

TỔNG CỘNG

264 342 437

75 818 692

340 161 129

Nguồn: Bộ văn hóa và du lịch, 2008

7. Các học viện văn hóa và những sự cộng tác mới

7.1. Sự phân bố lại trách nhiệm chung

Sự gia tăng các doanh nghiệp giải trí, ngành công  nghiệp văn hóa và du lịch văn hóa đă thu hút sự chú ư của doanh nghiệp tư nhân. Số lượng các cuộc triển lăm tư nhân, bảo tàng, cửa hàng cổ và những cửa hàng lưu niệm cho quốc gia và đồ thủ công đang phát triển. Những đại lư thiết kế, chợ sách và hăng in ấn đang phát triển.

Ngành sách như sản xuất sách, báo chí và sản xuất nghe nh́n và quay phim, ngành công nghiệp giải trí và công nghệ khác đang trên đà phát triển. Thực tế, có một ngành kinh doanh độc lập mới đang phát triển tại Azerbajian nhưng vẫn chưa được coi là chính sách văn hóa quốc gia tổng thể.

Quá tŕnh phân quyền trong xă hội đă làm tăng sự tham gia của tư nhân và ngành thứ ba. Ngành dân sự tại Azerbajian đang trong những giai đoạn đầu tiên của sự phát triển này. Bộ tư pháp đă đăng kư hơn 1500 tổ chức phi chính phủ. Cũng có nhiều tổ chức không đăng kư mặc dù một ít trong số họ có thể được đánh giá là thực sự năng động. Hầu hết các tổ chức phi chính phủ phải chịu sự thiếu vốn, kỹ năng tổ chức, khả năng nghiên cứu và thiếu thành viên. Khi xem xét đến tất cả những vấn đề này th́ Tổng thống nước cộng ḥa đă kư Nghị định về chọn “Khái niệm về sự hỗ trợ của nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ của nước cộng ḥa Azerbajian’’ vào ngày 27/7/2007.

7.2. Vị thế/ vai tṛ phát triển các học viện văn hóa chính

Phần lớn các học viện văn hóa có vị thế của nhà nước được cấp vốn một cách tập trung hoặc theo ngân sách của địa phương. Thư viện, bảo tàng và các triển lăm được cung cấp vốn bởi nhà nước. Các mức lương được nhà nước bảo đảm trong khi đó chi phí cho duy tŕ các ṭa nhà hoặc xây dựng những giai đoạn mới được tiến hành do nhà nước tự chi trả. Tỷ lệ chi phí tập trung phần trăm cao dành cho các thư viện và bảo tàng của tầm quan trọng quốc gia phụ thuộc vào các rạp hát nhà nước, sự kiện tập trung, các cuộc biểu diễn âm nhạc và rạp hát, nghệ thuật nghe nh́n, phục hồi các đài kỷ niệm văn hóa, sự tạo dựng mới các đài kỷ niệm và thực hiện các sự kiện tại các nước ngoài.

Bảng 8: Số lượng các viện văn hoá nhà nước trong hệ thống của Bộ Văn hoá và Du lịch

Viện

Tổng số

Nhà hát

28

Các tổ chức hoà nhạc

12

Thư viện

3993

Cung điện và nhà văn hoá, câu lạc bộ

2708

Các trường vẽ, nghệ thuật và âm nhạc của trẻ em

234

Trường múa ba lê ở Baku

1

Trung tâm khoa học- phương pháp luận về văn hoá

1

Trung tâm về việc phát triển chuyên nghiệp và đào tạo những người làm trong ngành văn hoá

1

Các viện bảo tàng quốc gia

197

Các khu bảo tồn quốc gia

24

Các pḥng triển lăm nghệ thuật

35

Pḥng triển lăm

1

Công viên giải trí và văn hoá

60

Vườn bách thú

1

Các trung tâm giải trí

4

Trung tâm chiếu phim quốc gia (cùng các chi nhánh)

2

Trường quay phim quốc gia

7

Các rạp chiếu phim ở các quận và các thành phố

153

Các cơ sở phân phối phim

5

Các nhà xuất bản và biên tập

6

Viện dự án nghiên cứu khoa học “Azerbajian”

1

Các cơ quan và các sở  sản xuất- phục hồi khoa học

4

Thu thập sách thư viện cộng hoà

1

Trung tâm nấu ăn quốc gia

1

Các đài tưởng niệm văn hoà và lịch sử

6308

 

7.3. Sự hợp tác hay cộng tác hiện tại

Có một loạt sự hợp tác mới giữa các viện văn hoá và những người bảo trợ tư nhân trong suốt những năm 1998 đến 2001 trong đó có Nhà hát Opera quốc gia và ba lê quốc gia Azerbajian đă hợp tác với nhau để thu hút nhiều nguồn tài trợ hơn. Họ đă thành lập nên quỹ tín thác Opera mà các thành viên của nó bao gồm các công ty dầu mỏ giàu có và các công ty khác như BP-Amoco, AGIP, Arco, Ngân hàng Anh HSBC, Mobil, Shell, Texaco, Công ty TNHH Wicklow… Nhiều nhà hát khác cũng có sự bảo trợ cho các sản phẩm mới. Công ty Chiếu phim Quốc tế Azerbajian, có sự liên doanh giữa Hiệp hội các nhà điện ảnh và Công ty Tư nhân ở Anh “ITIL”, đă hiện đại hoá “rạp chiếu phim Azerbajian” và đă quản lư rất thành công.

Rất nhiều các hoạt động của Bộ Văn hoá và Du lịch của nước cộng hoà Azerbaijan như các lễ hội, các buổi hoà nhạc, các hội chợ… ở trong và ngoài nước đă thu hút tỷ lệ đáng kể những người bảo trợ trong ngành tư nhân.

Học viện nghệ thuật giảng dạy môn họa, điêu khắc, tạo thảm, làm đồ gốm, tạo mẫu, thiết kế kịch bản và nghệ thuật trang trí và ứng dụng. Các trường kỹ thuật chuyên về văn hóa cung cấp loại h́nh đào tạo trong các lĩnh vực sau: quản lư văn hóa và ứng dụng, quản lư bảo tàng, bảo tồn đài tưởng niệm, nghệ thuật trang trí và ứng dụng và thư viện. Ở đây cũng có Khoa âm nhạc đào tạo những giáo viên âm nhạc cho các học viện sơ cấp và các trường nhạc. Khóa học cấp độ 2 hoạt động trong ba năm, khóa học đầu tiên hoạt động trong 4 năm. Một số các trường chuyên biệt đào tạo liên tục; Trường chuyên âm nhạc trung cấp có tên là Byulbyul của Học viện Âm nhạc Baku và Trường học múa ba lê của Baku- trường đào tạo múa ba lê và khiêu vũ dân gian duy nhất của quốc gia này. Đào tạo trong những học viện này kéo dài 11 đến 12 năm được miễn phí và học sinh có điểm cao sẽ nhận được học bổng.

8. Hỗ trợ việc sáng tạo và tham gia

8.1 Hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các nghệ sĩ

Sự sáng tạo văn hoá và những người nghệ sĩ ở Azerbaijan đă nhận được sự hỗ trợ từ các nguồn ngân sách trung tâm và địa phương, chủ yếu bằng việc cung cấp những điều kiện có liên quan đến việc duy tŕ các viện văn hoá, tiền lương, tiền thù lao và tiền thanh toán khi nghỉ hưu và tiền đóng góp y tế. Ngoài ra c̣n có sự hỗ trợ khác của nhà nước cho các hoạt động sáng tạo như việc giúp các nghệ sĩ tham gia vào các chương tŕnh và các dự án phát triển của nhà nước, cũng như sự hỗ trợ về mặt tài chính và tổ chức đối với các dự án và những sáng kiến của tư nhân, tổ chức các lễ hội và các cuộc thi ở các lĩnh vực khác nhau về văn hoá một cách chuyên nghiệp (nhà hát, âm nhạc, các môn nghệ thuật thị giác…), gửi các đoàn đại biểu đến các sự kiện quốc tế hay là việc cung cấp sự giáo dục miến phí đặc biệt ở cấp tiểu học, trung học và phổ thông…

8.1.1. Các nguồn quỹ đặc biệt của các nghệ sĩ

Có rất nhiều các nguồn quỹ đặc biệt khác nhau trong lĩnh vực văn hoá ở cấp khu vực hay quốc gia từ các chính quyền địa phương, các hiệp hội, các cơ quan pháp lư và cá nhân với hy vọng thu hút và kêu gọi nhiều sự đóng góp hơn nữa. Ngoài ra, c̣n kiếm được những khoản tiền từ các nguồn khác từ các tổ chức văn hoá như  các chi phí phải trả cho các dịch vụ văn hoá ở các viện bảo tàng, pḥng triển lăm và các thư viện. Tuy nhiên, những khoản tiền này thường rất nhỏ và không đáng chú ư, chỉ chiếm khoảng nhỏ hơn 1% tổng chi phí về  văn hoá, nghệ thuật và các đài tưởng niệm.

Sự tư nhân hoá cũng là câu trả lời khác cho vấn đề tài trợ, trong đó báo chí định kỳ, việc xuất bản, TV và đài, thu âm, sản xuất và phân phối phim, tổ chức các buổi hoà nhạc… là các khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Cùng thời điểm đó, sự tư nhân hoá đă ảnh hưởng không đáng kể đối với ngành phân phối và sản xuất phim mà yêu cầu phần góp vốn rất đáng kể.

Ngoài ra, việc tư nhân hoá cũng có những hạn chế, ví dụ những lĩnh vực dưới đây có thể không được tư nhân hoá như các viện bảo tàng, thư viện, các pḥng trưng bày, đài tưởng niệm lịch sử và tài sản văn hoá có ư nghĩa trọng và mang tính quốc tế.

8.1.2. Tiền trợ cấp, phần thưởng và những học bổng

Tiền trợ cấp cho các nghệ sĩ là một thuật ngữ mới trong hệ thống hỗ trợ của Chính phủ. Luật về tiền trợ cấp (tháng 4 năm 1998) đă quy định những mối quan hệ pháp lư và kinh tế cho việc ban hành, chấp nhận và sử dụng các khoản trợ cấp. Rất nhiều các khoản trợ cấp có sẵn được tặng cho các nghệ sĩ bởi Viện Xă hội Mở- Azerbaijan và các cơ quan nhân đạo khác. Các hoạt động của họ chủ yếu hướng tới việc viếng thăm qua lại của các nghệ sĩ, nhạc sĩ và những nhà phê b́nh nghệ thuật với các quốc gia bên ngoài bao gồm tiền trợ cấp đi lại, điều này sẽ tạo điều kiện cho những người hoạt động nghệ thuật có thể tham gia các buổi hội thảo chuyên đề, hội thảo và các lễ hội ở nước ngoài, và nhận được các khoản trợ cấp nghiên cứ trong lĩnh vực khoa học xă hội trong đó có cả văn hoá và nghệ thuật.

Sự hỗ trợ đích cho một vài hoạt động nghệ thuật đă được phê duyệt trong các văn bản của nhà nước liên quan đến việc tài trợ trong ngành văn hoá. Những nghị quyết dưới đây của Thủ tướng nước cộng hoà Azerbaijan đưa ra sự hỗ trợ trực tiếp cho các nghệ sĩ và các nhóm đặc biệt: Về các biện pháp nhằm cải thiện hoạt động của dàn nhạc giao hưởng ở Azerbajian;về tiền trợ cấp cho các  hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo ở Azerbajian; về sự hỗ trợ của Thủ tướng cho những người trẻ tuổi thiên tài được chỉ ra trong “quyển sách vàng”; về việc cải thiện vấn đề cung cấp trợ cấp xă hội cho những thành viển trong các đoàn múa bale tại nhà hát múa ba lê và opera quốc gia; tiền lương cho những nhà văn trẻ ở nước cộng hoà Azerbajian; về việc cải thiện vấn đề cung cấp trợ cấp xă hội cho các buổi hợp xướng ở nhà thờ; về việc cải thiện trợ cấp xă hội cho những người làm ở các đoàn hát múa nhà nước Azerbajian; về việc thành lập quỹ trợ cấp với con số nổi bật của Thủ tướng nước cộng hoà Azerbaijan trong lĩnh vực nghệ thuật; về việc thành lập quỹ trợ cấp riêng của Thủ tưởng nước cộng hoà Azerbajian…. Có rất nhiều các giải thưởng của Chính phủ như nghệ sĩ nhân dân.. có ư nghĩa đặc biệt quan trọng về cả khía cạnh vật chất và tinh thần.

8.1.3. Hỗ trợ cho các hiệp hội nghệ sĩ chuyên nghiệp

Hệ thống đa chi nhánh của các hiệp hội sáng tạo vẫn là các hiệp hội chuyên nghiệp. Họ có các nguồn tài trợ chính và có cơ sở về cả vật chất và kỹ thuật  bao gồm có các toà nhà từ hệ thống chính phủ nhưng họ lại độc lập trong việc quản lư về các vấn đề chuyên môn, xă hội và vật chất mà không chịu sự can hiệp của nhà nước. Bộ Văn hoá và Du lịch cùng các chính quyền địa phương và trung tâm khác đă đưa ra sự hàng loạt sự hỗ trợ khác nhau về tài chính và tổ chức cho các hiệp hội sáng tạo nghệ thuật, bao gồm các thành viên của họ tham gia vào các sự kiện quốc tế và trong nước khác nhau và mua các sản phẩm về sự sáng tạo nghệ thuật của họ tại các giờ giải lao.

8.2. Tiêu dùng về văn hoá và sự tham gia

8.2.1. Xu hướng và những con số

Những thay đổi về mặt chính trị, kinh tế và xă hội bao gồm cả những hậu quả của chính tranh ở Azerbaijan đă có những tác động trực tiếp về số lượng và chất lượng của các viện văn hoá và số lượng  khách du lịch. Một số lượng đáng kể các viện văn hoá tồn tại ở các lănh thổ bị chiếm đóng v́ thế mà rất nhiều du khách không có cơ hội được tiếp cận chúng.

Bảng 9: Số lượng những người tham dự vào các viện văn hoá công cộng, đơn vị hàng ngh́n trong những năm 1990 đến 2007

 

1990

1995

2000

2005

2006

2007

Thư viện (Số lượng độc giả)

4145000

3.31000

2881000

(Năm 1998)

2400000

2357000

2339000

Những người tham gia câu lạc bộ

199500

125200

107500

83600

83890

83900

Rạp chiếu phim

116100

(Năm 2003)

115400

177100

152200

Nhà hát

1376000

1201000

925000

544000

495000

529000

Các buổi hoà nhạc

994000

393000

339000

259000

272000

216000

Viện bảo tàng

1154000

1543000

1196000

1477000

1399000

1409000

Rạp xiếc

109000

178800

103000

112500

109000

Chuyến viếng thăm vườn bách thú

110000

64000

93000

96000

97000

Học sinh ở các trường mỹ thuật, nghệ thuật và âm nhạc

69099000

72005000

70118000

70182000

Nguồn: Uỷ ban thống kê nhà nước của nước cộng hoà Azerbajian, 2008

Qua bảng 9 ta thấy rằng những người tham gia vào các thư viện, câu lạc bộ, nhà hát và các buổi hoà nhạc đă giảm. Mặc khác, số lượng khách đến thăm các bảo tàng, rạp chiếu phim và các học sinh ở các trường mỹ thuật, nghệ thuật và âm nhạc đă tăng lên, điều này có thể dễ dàng được giải thích bằng việc phát triển những lĩnh vực này trong những năm gần đây. Sự giảm tổng thể số người tham gia là do sự xâm lược và chiếm đóng của người Ac-mê-ni chiếm khoảng 20% lănh thổ của Azerbajian. Trong năm 1990, quân đội đă bắt đầu hoạt động và có khoảng 1 triệu người tị nạn Azerbaijan từ Ac-mê-ni và Garabagh trước năm 1998. Địa vị xă hội và điều kiện sống của những người tị nạn và IDP rất thấp v́ vậy sẽ rất khó khăn trong việc giúp họ gia nhập và cuộc sống văn hoá và không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, thực tế này đă làm ảnh hưởng đến bức tranh toàn cảnh.

Trong năm 2001, Bộ đă đưa ra một bản khảo sát “sự tham gia văn hoá” trong báo cáo quốc gia về các hoạt động văn hoá của các nhóm xă hội, với sự khác nhau về độ tuổi, giới tính và tŕnh độ giáo dục. Bản khảo sát này đă được thực hiện bởi SIAR, Trung tâm nghiên cứu marketing và xă hội trong đó đặc biệt chú trọng vào các ngành văn hoá- truyền thông, rạp chiếu phim, radio, máy tính, báo và sách.

8.2.2. Các chính sách và các chương tŕnh

Bộ Văn hoá và Du lịch đă khởi xướng một chương tŕnh đặc biệt, bắt đầu từ năm 2007 nhằm mở rộng và thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá của các tầng lớp khác nhau trong xă hội. Ngoài ra, một số các thành phần dân cư được đặc ân trong việc tiếp cận miễn phí tới những nơi như việc bảo tàng, các khu bảo tồn và các đài tưởng niệm cho những người tham gia cuộc chiến tranh Nagorno- Garabagh, những thành viên trong gia đ́nh liệt sỹ, những người khuyết tật, những người được hưởng tiền trợ cấp, những trẻ mồ côi, những học sinh trung học và phổ thông… cũng như cho tất cả các du khách đến thăm vào những ngày nghỉ quốc gia, những bảo tàng quốc tế và những ngày du lịch.Tất cả những biện pháp này được đưa ra nhằm làm tăng nhận thức xă hội và sự hợp tác tham gia của người dân vào các hoạt động văn hoá của đời sống xă hội.

8.3. Giáo dục văn hoá và nghệ thuật

8.3.1. Giáo dục nghệ thuât

Giáo dục nghệ thuật là một truyền thống lâu đời ở Azerbaijan trong đó có có sự dân chủ hoá cao và sự tham gia của người dân với tỷ lệ rất cao. Trách nhiệm của các viện giáo dục và đào tạo văn hoá được phân cho Bộ Văn hoá và Du lịch (các trường mỹ thuật, nghệ thuật và âm nhạc giành cho trẻ em và các trường múa ba lê ở Baku) và Bộ giáo dục, chịu trách nhiệm giám sát và theo dơi việc giáo dúc nghệ thuật đặc biệt ở cấp cơ sở hay cấp cao hơn.

Hiện tại, có khoảng 234 trường học chuyên nghiệp giảng dạy về âm nhạc, khiêu vũ và vẽ ở cấp I trong đó có sự tham gia của trẻ em ở các độ tuổi từ 4 đến 7 (nghệ thuật- 4 năm, khiêu vũ- 5 năm và âm nhạc- 7 năm). Các trường âm nhạc dạy các dụng cụ cổ điển (piano, viôlông, đàn viôlôngxen, sáo, clarinet, kèn ô-boa, kèn trompet, kèn tuba, kèn fagốt..) và các dụng cụ dân tộc (tar, kemancha, nagara, canon, balaban…) cũng như các bài hát cổ điển và dân gian. Hầu hết các trường âm nhạc và nghệ thuật đều được nhà nước trợ cấp hoàn toàn. Các bộ trưởng nội các ở nước cộng hoà Azerbaijan đă phê duyệt chỉ thị số 309s (2008), “chương tŕnh phát triển cho việc cải thiện các hoạt động ở các trường mỹ thuật, nghệ thuật và âm nhạc của trẻ em tại nước cộng hoà Azerbaijan (2009-2013)”, nhằm cải thiện các điều khoản về cơ sở vật chất và tổ chức trong lĩnh vực này.

Có 16 trường chuyên nghiệp trong đó cung cấp việc giáo dục về văn hoá và nghệ thuật ở cấp II (11 trường nhạc, 3 trường kỹ thuật văn hoá, một trường về nghệ thuật và khiêu vũ). Các trường kỹ thuật chuyên về âm nhạc (có 8 trường gồm có trường đại học âm nhạc trong  Nhạc viện quốc gia Azerbajian) đào tạo những người biểu diễn các công cụ cổ điển và dân gian và cũng đào tạo cả những giáo viên cho những trường âm nhạc của trẻ em.

Học viện nghệ thuật giảng dạy môn họa, điêu khắc, tạo thảm, làm đồ gốm, tạo mẫu, thiết kế kịch bản và nghệ thuật trang trí và ứng dụng. Các trường kỹ thuật chuyên về văn hóa cung cấp loại h́nh đào tạo trong các lĩnh vực sau: quản lư văn hóa và ứng dụng, quản lư bảo tàng, bảo tồn đài tưởng niệm, nghệ thuật trang trí và ứng dụng và thư viện. Ở đây cũng có khoa âm nhạc đào tạo những giáo viên âm nhạc cho các học viện sơ cấp và các trường nhạc. Khóa học cấp độ 2 hoạt động trong ba năm, khóa học đầu tiên hoạt động trong 4 năm. Một số các trường chuyên biệt đào tạo liên tục; Trường chuyên âm nhạc trung cấp có tên là Byulbyul của Học viện âm nhạc Baku và Trường học múa ba lê của Baku- trường đào tạo múa ba lê và khiêu vũ dân gian duy nhất của quốc gia này. Đào tạo trong những học viện này kéo dài 11 đến 12 năm được miễn phí và học sinh có điểm cao sẽ nhận được học bổng.

Học viện âm nhạc baku, Học viện quốc gia Azerbajian, Đại học văn hóa và nghệ thuật công lập của Azerbajian và Học viên nghệ thuật nhà nước Azerbaijian cung cấp khóa học cấp 3 về văn hóa và nghệ thuật. Những nhà soạn nhạc, nhà âm nhạc học, người xướng ca, nhạc công cổ điển và dân gian và ca sỹ nhận được chương tŕnh đào tạo tại Học viện âm nhạc Baku. Tại học viện này những sinh viên tốt nghiệp cũng như giáo viên và người biểu diễn đă có được thành tích và công nhận của quốc tế. Đại học văn hóa và nghệ thuật công lập tổ chức các khóa học theo những lĩnh vực sau: kịch, phim ảnh và truyền h́nh (đạo diễn, diễn viên, viết kịch bản, quay phim...) múa ba lê, quản lư bảo tàng, bảo tồn đài tượng niệm, quản lư văn hóa, nghệ thuật thể hiện, nghệ thuật trang trí và ứng dụng (thiết kế thảm, công nghiệp đồ họa, nghệ thuật thương mại, thiết kế thời trang, thiết kế nội thất...) Học viện nghệ thuật công lập cung cấp những khóa học về hội họa, đồ họa, điêu khắc, kiến trúc, nghệ thuật trang trí và ứng dụng, thiết kế kịch, lịch sử và thuyết nghệ thuật thể hiện, thiết kế nội thất, thiết kế thảm, quảng bá và tạo mốt. Những kiến trúc sư được đào tạo tại trường Cao đẳng kiến trúc và kỹ thuật xây dựng. Đại học Azerbajian công lập cung cấp những khóa học tốt nghiệp cho người thư viện và người sưu tầm thư mục.

Một số các học viện thuộc giáo dục đại học có những khoa nghệ thuật đào tạo những giáo viên giảng dạy âm nhạc, lịch sử âm nhạc, nghệ thuật thể hiện, piano và  dụng cu dân gian. Các ngành nghệ thuật tại một số trường đại học theo h́nh thức thương mại...như Đại học phương Tây (thiết kế, nghệ thuật trang trí và ứng dụng) và Đại học ‘’ Khazar’’ (thiết kế). Một số những khóa học trên được miễn phí c̣n một số th́ không. Những sinh viên có được những kết quả tốt sẽ được học bổng. Những khóa học kéo dài giữa 4 đến 6 năm phụ thuộc vào cấp độ (cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ) theo chương tŕnh Bologna.

Đào tạo và các khóa học phát triển chuyên nghiệp dành cho những người làm việc cho văn hóa đang được thực hiện kể từ năm 2006. Những khóa học này giúp cho những người làm việc với hệ thống Bộ Văn hóa và Du lịch (những giám đốc của trung tâm văn hóa thành phố, nhà hát và những người quản lư và nhân viên cho các hội trường buổi ḥa nhạc, người thư viện và nhân viên các nhà bảo tàng, các trường học nghệ thuật và âm nhạc cho trẻ em, liên kết và trung tâm văn hóa, các triển lăm tranh...) để cải thiện những kỹ năng của họ. Số lượng sinh viên và các ngành học đang tăng lên hàng năm.

8.3.2. Giáo dục liên văn hóa

Giáo dục liên văn hóa là một phần của khung chương tŕnh trường học và đại học nói chung. Lĩnh vực này không được quản lư chủ yếu do những người làm chính sách giáo dục- Bộ giáo dục. Nhưng các trường học hội họa, âm nhạc cho trẻ em được quản lư bởi Bộ Văn hóa và Du lịch. Có những chủ đề khác nhau được đưa ra ở tất cả các cấp học nhằm tập trung nổi bật giá trị và bản sắc của quốc gia nhằm thúc đẩy sự khoan dung, đa ngôn ngữ, b́nh đẳng và để giúp học sinh có thông tin về văn hóa thế giới, tôn giáo, truyền thống.... trong khuôn khổ quy tắc của con người.

8.4. Các môn nghệ thuật không chuyên, các hiệp hội văn hoá và các trung tâm cộng đồng

8.4.1. Các môn nghệ thuật không chuyên

Bộ Văn hoá và Du lịch và Liên minh Thương mại Azerbaijan đă hỗ trợ các môn nghệ thuật không chuyên và sự sáng tạo của con người qua một loạt hệ thống các toà nhà văn hoá, các câu lạc bộ, công viên và các trung tâm có liên quan mà được tài trợ bởi nhà nước và các doanh nghiệp lớn. Các câu lạc bộ và các toà nhà văn hoá sẽ mang lại nền tảng và điều kiện rất tốt cho việc hoạt động của các nhóm người trong câu lạc bộ, những nhóm môn nghệ thuật không chuyên, các câu lạc bộ của những liên đoàn không chuyên, những người biểu diễn nghệ thuật không chuyên, các khoá học và lớp học sáng tác kỹ thuật và những lớp học của trẻ em.

Bảng 10: Những người trong các câu lạc bộ, các nhóm và liên đoàn nghệ thuật không chuyên từ hệ thống của Bộ Văn hoá và Du lịch trong những năm 1990, 1995, 2000, 2005-2007

 

1990

1995

2000

2005

2006

2007

Tổng số

13084

9386

8236

6997

6885

6861

Những người tham gia

199500

125200

107500

83600

83891

83900

 

Các câu lạc bộ tập thể và các liên đoàn không chuyên

1441

1086

1076

1094

1134

1159

Những người tham gia

29000

16200

15200

14000

14155

13800

 

Giới nghệ thuật không chuyên

10130

7509

6604

5474

5345

5286

Những người tham gia

143200

97000

85300

64800

64888

65300

 

Các khoá học và lớp học sáng tác kỹ thuật

1513

791

556

429

406

416

Những người tham gia

27300

12000

7000

4800

4848

4800

 

Những lớp học giành cho trẻ em

3788

3989

3632

3375

3365

3482

Những người tham gia

65200

56100

50400

44200

45335

42700

Nguồn: Uỷ ban thống kê nhà nước của nước cộng hoà Azerbajian, 2008

Bảng 12: Số lượng các câu lạc bộ trong những năm 1990, 1995, 2000, 2005-2007

 

1990

1995

2000

2005

2006

2007

Thành phố

529

503

432

393

267

337

Nông thôn

3151

3174

2922

2370

2432

2371

Tổng số

3680

3677

3354

2763

2699

2708

Nguồn: Uỷ ban thống kê nhà nước của nước cộng hoà Azerbaijan, 2008

Bộ Văn hóa và Du lịch là cơ quan điều hành trung tâm và chịu trách nhiệm chính trong việc vận hành các câu lạc bộ, đưa vào xem xét hệ thống câu lạc bộ của quận nào cần được tài trợ bởi chính quyền địa phương. Cũng có hàng loạt các câu lạc bộ chịu sự quản lư của Liên hiệp Thương Mại Azerbaijan.

Bảng 13: Việc quản lư các câu lạc bộ được chia cho các ngành, 2000-2007

 

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Bộ Văn hóa và Du lịch

3275

3016

3000

2997

2968

2703

2699

2708

Liên hiệp Thương Mại Azerbaijan

79

75

77

69

62

60

60

52

Tổng cộng

3354

3091

3077

3066

3030

2763

2759

2760