Lịch sử Việt Nam mở đầu bằng thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn Lang. Triều đại Hùng Vương là triều đại đầu tiên của một quốc gia đă tồn tại suốt mấy ngàn năm lịch sử với bao biến động, bao thăng trầm nhưng vẫn vững vàng bên Thái B́nh Dương. Với ư nghĩa “trung tâm” của một quốc gia, thành Phong Châu là kinh đô đầu tiên; Thăng Long- Hà Nội là thủ đô hiện tại của một nước Việt Nam văn hiến. Câu chuyện chọn đất đóng đô thời các vua Hùng và thời Lư Công Uẩn có biết bao điều thú vị…

Từ chuyện Vua Hùng chọn đất đóng đô...

Văn Lang là tên gọi của quốc gia Việt Nam thời các Vua Hùng dựng nước. Văn Lang vừa là tên nước lại vừa là tên gọi của kinh đô Văn Lang thời đại Hùng Vương. Kinh đô Văn Lang chính là vùng đất được xác định trên không gian văn hóa là vùng Việt Tŕ, Phù Ninh, Lâm Thao tỉnh Phú Thọ ngày nay.

Thời kỳ Hùng Vương chưa có sử viết, chưa có chính sử, cho nên nhận thức về thời đại này ngoài sự nghiên cứu của các ngành như khảo cổ học, dân tộc học, nhân chủng học…, c̣n dựa vào các truyền thuyết dân gian - mà theo cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - truyền thuyết “có cái lơi là sự thật lịch sử”.

Nhà nghiên cứu văn học dân gian Nguyễn Khắc Xương – con trai cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, một người có thể xứng danh nhà “Hùng Vương học, Đền Hùng học” của Phú Thọ - năm nay 88 tuổi. Nhưng ông vẫn cực kỳ minh mẫn khi kể truyền thuyết Hùng Vương chọn đất đóng đô.

Ngày ấy, tổ tiên ḿnh t́m đất đóng đô của Nhà nước Văn Lang cũng thận trọng và cầu kỳ lắm. Đích thân Vua đă đi nhiều nơi trong vùng Phú Thọ mà nay tương ứng thuộc địa danh Thanh Vân, Đông Lĩnh, núi Thắm (Thanh Ba); Ao Châu (Hạ Hoà) Xuân Lộc (Thanh Thủy) và cuối cùng chọn vùng đất từ ngă ba sông Bạch Hạc tới quanh núi nghĩa Lĩnh làm nơi đóng đô. Truyền thuyết Hùng Vương của ông Nguyễn khắc Xương kể rằng: “Vua đi măi nơi này, nơi khác mà chưa t́m được nơi nào có thể định đô. Đi tới một vùng: Trước mặt ba sông hội tụ, hai bên có Tản Viên, Tam Đảo chầu về, đồi núi gần xa, khe ng̣i quanh quất, thế đất bày ra như h́nh hổ phục, rồng chầu, tướng quân bắn nỏ, ngựa chạy rồng bay. Giữa những quả đồi xanh tốt thấy có ngọn núi đột ngột nổi lên như con voi mẹ nằm giữa đàn con. Vua lên núi nh́n ra bốn phía thấy ba bề băi rộng bồi đắp phù sa, bốn mặt cây xanh, hoa tươi, cỏ ngọt, vừa trùng điệp, vừa quanh co, có rộng mà phẳng, có hẹp mà sâu. Vua cả mừng khen rằng đây thực là đất họp muôn dân, đủ hiểm để giữ, có thế để mở, thế đất vững bền có thể dựng nước được muôn đời. Vua Hùng đặt đô ở đó, gọi tên là thành Phong Châu”. Phạm vi kinh đô Văn Lang kéo dài từ ngă ba sông Bạch Hạc về tới núi Nghĩa Lĩnh. Vùng đất địa linh này là đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng, có băi sa bồi, có rừng núi và đồi, thoáng rộng và tiện thông thương giữa hai miền ngược và xuôi bằng đường thủy lại có thế hiểm trở để chống giữ với các cuộc xâm lược của ngoại xâm.

Trên vùng đất Kinh đô Văn Lang có rất nhiều di sản văn hóa - Hàng trăm di tích lịch sử, di sản văn hóa vật thể và rất nhiều lễ hội dân gian, tṛ diễn hội làng, dân ca nghi lễ, diễn xướng dân gian và những câu hát hội làng, những truyền thuyết và những câu ca dao, tục ngữ, những câu phương ngôn đằm thắm gắn với phong tục, tín ngưỡng cổ truyền của người dân lao động. Từ ngàn xưa, Kinh đô Văn Lang - đất Việt Tŕ đă được ghi vào sách sử và ghi đậm trong dấu ấn chinh phục thiên nhiên, phát triển cuộc sống của con người. Mỗi địa danh trên đất Việt Tŕ đều gắn với một vùng đất đai truyền thuyết: Ngă 3 Bạch Hạc là nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay nhau dẫn các con đi khai khẩn đất hoang mở mang bờ cơi; Bến Gót là nơi tiên ông vừa ngồi câu cá vừa nghĩ đặt tên cho 100 người con trai của Lạc Long Quân; Đền Hùng là nơi thờ tự linh thiêng các Vua Hùng, nơi đây c̣n là vùng đất gắn với hoạt động sinh thời của các Vua Hùng; Đền Trung nơi Vua cùng Lạc Hầu, Lạc Tướng bàn việc nước; Đền Hạ nơi mẹ Âu Cơ  sinh ra một bọc trứng trăm trai; Đền Thượng nơi Vua Hùng tế trời đất, cũng là nơi An Dương Vương dựng cột đá thề; Đền Giếng là nơi Tiên Dung, Ngọc Hoa soi gương chải tóc; Lâu Thượng, Lâu Hạ là nơi cửa cấm của triều cung, Minh Nông nơi Vua Hùng dạy dân cấy lúa, Tiên Cát nơi Vua dựng lầu kén rể; Hương Trầm là ruộng lúa nếp hương dùng gói bánh dâng Vua cúng tế trời đất; đặc biệt là Khu di tích Làng Cả dấu tích Kinh đô một thời hoàng kim và cũng là chứng tích xă hội chia tầng giàu- nghèo và phân chia đẳng cấp.

Hàng ngàn năm sau Thăng Long- Đông Đô- Hà Nội là vùng đất “Đă đúng ngôi Nam - Bắc - Tây - Đông, lại tiện hướng nh́n sông dựa núi”. Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”  đă trở thành Kinh đô quốc gia của các triều đại phong kiến tự chủ Việt Nam. Đó là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước ta và liên tục giữ vai tṛ đó cho tới ngày hôm nay- trên 10 thế kỷ. Ở đây ta nh́n lại trước khi Thăng Long giữ vai tṛ này, hàng mấy ngàn năm, th́ trung tâm ấy lại đặt ở Văn Lang- Việt Tŕ. Đây là thời kỳ lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam- thời các Vua Hùng dựng nước.

Trong thư tịch cổ  th́ bộ Văn Lang, bộ trung tâm của quốc gia Văn Lang, ở vào hợp lưu giữa 3 ḍng sông: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Đà, gồm cả một vùng đất đai rộng  lớn từ thềm Ba V́ tới chân Tam Đảo thuộc các miền đất Phú Thọ; Vĩnh Phúc, một phần Hà Nội, Tuyên Quang, Yên Bái ngày nay. Trên vùng đất đó khảo cổ học đă phát hiện được nhiều di chỉ liên tục của hệ thống văn hóa Phùng Nguyên vào đầu thời đại đồng thau. Thành phố Việt Tŕ - Kinh đô Văn Lang ở vào trung tâm bộ Văn Lang, nơi đây các di chỉ khảo cổ học với mật độ dày đặc gồm đủ 4 giai đoạn văn hóa từ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, G̣ Mun, Đông Sơn.

Sự phát hiện di chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên với 4 đợt khai quật đă mở đầu cho việc nghiên cứu xác định nơi cư trú của tổ tiên ta thời dựng nước trên vùng đất Phú Thọ. Các địa điểm khảo cổ học thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, G̣ Mun phân bổ dày xung quanh khu vực Đền Hùng, dấu vết văn hoá Đông Sơn cũng được phát hiện ở nhiều điểm trên đất Phong Châu  (gồm Lâm Thao, Phù Ninh, Tam Nông) lan tỏa đến ngă 3 Bạch Hạc - Việt Tŕ.

Cùng với việc chiếm lĩnh đồng bằng các cư dân Phùng Nguyên đă để lại nhiều dấu vết của ḿnh ở nơi hội tụ ngă 3 sông. Làng Cả là một khu di chỉ nổi tiếng gần chục héc ta vừa là nơi cư trú vừa là khu mộ táng. Ba lần khai quật cùng một lần đào thám sát đă phát hiện được 311 ngôi mộ vào giai đoạn Đông Sơn cực thịnh với rất nhiều hiện vật tùy táng. Tỷ lệ hiện vật quư hiếm và giàu. Đặc biệt là có một ngôi mộ đă t́m thấy chiếc khóa đai lưng đúc bằng đồng trạm khắc tinh vi 4 cặp rùa chầu vào nhau. Phải chăng đó là cái đai quyền lực? Khu vực Làng Cả hẳn vào thời kỳ các Vua Hùng đă là nơi sầm uất đông dân cư, rất thuận tiện giao lưu theo đường thủy với các miền đất khác. Mối quan hệ Văn Lang - Việt Tŕ với Thăng Long - Hà Nội chính là sự lan tỏa của các di chỉ khảo cổ học, dấu vết của sự phát triển dân số và di chuyển của con người, từ đỉnh tam giác châu thổ Sông Hồng với Phong Châu - Việt Tŕ la trung tâm đầu tiên thời dựng nước, về Cổ Loa thời Thục An Dương Vương (thế kỷ III trước Công Nguyên) rồi Thăng Long - Hà Nội ở hàng mấy ngàn năm sau.

Nơi đây, theo tư liệu thư tịch cổ của Việt Nam và Trung Quốc chính là điểm “hội nhân” đầu tiên của quốc gia Văn Lang cổ đại- Nơi trung tâm “các Vua Hùng đă có công dựng nước” như Hồ Chủ Tịch đă tổng kết tại Đền Hùng ngày 19-9-1954..

... Đến tầm nh́n “Thăng Long - Hà Nội” của Lư Công Uẩn

Chuyện cũ kể rằng, sông Hồng khi xưa ăn thông với hồ Xác Cáo (c̣n có các tên là Hồ Trâu Vàng, Hồ Lăng Bạc, Hồ Đạp Hối...), điểm nối kết là ở Cửa Sông - Băi Sậy (tức hồ Trúc Bạch ngày nay). Năm 1010, Vua Lư Công Uẩn chèo thuyền ngược sông Hồng tới đây th́ nh́n thấy một con Rồng bay lên, cho là có điềm tốt. Người ban Chiếu dời đô, toàn văn như sau:

“Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam Đại theo ư riêng ḿnh mà tự tiện chuyển dời? Chỉ v́ muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ư dân, nếu thấy thuận tiện th́ thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ư riêng ḿnh, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời. Huống ǵ thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi. Đă đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nh́n sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chổ ở. Các khanh nghĩ thế nào?”

Với sự “phân tích” của Lư Công Uẩn, đương nhiên, các “khanh” không thể không bị thuyết phục. Công cuộc dời đô từ Hoa Lư về Đại La diễn ra vào năm 1010- cách đây tṛn một thiên niên kỷ. Lư Công Uẩn đổi tên Đại La thành Thăng Long. Thành Thăng Long khi ấy chỉ vẻn vẹn có 4 km2, ở phía Nam và Đông Nam hồ Dâm Đàm. Để tránh cho kinh thành khỏi bị lũ lụt uy hiếp hàng năm và để tránh cho các làng mạc thôn xóm vùng hạ lưu sông khỏi bị lũ lụt phá huỷ mùa màng, một công tŕnh thuỷ lợi vĩ đại đă diễn ra trong hai triều đại nhà Lư và nhà Trần. Gần 2000 km đê đă mọc lên, cứu đồng bằng Bắc bộ thoát khỏi lũ lụt. Tại Kinh đô Thăng Long, con đê đă ngăn cách Sông Hồng với Hồ Dâm Đàm. Sang thời hậu Lê, đê Mă Canh nối từ Yên Quang tới Yên Phụ (tức đường Cổ Ngư, đường Thanh Niên sau này) đă được tạo ra để ngăn nốt mối liên hệ giữa hồ Dâm Đàm với Cửa sông Băi Sậy, h́nh thành hồ Trúc Bạch tách hẳn khỏi Hồ Tây như ta thấy ngày nay.

Về mặt phong thủy, nh́n lên bản đồ hệ thống núi non h́nh rẻ quạt đi từ Tây sang Đông đều quy tụ tại Thăng Long. Các dải núi đồng quy như vậy tất tạo nên các luồng khí đồng quy. Các luồng khí tạo thành cơn lốc, xoáy lại, bay lên, tạo nên h́nh ảnh Rồng bay là hoàn toàn có lư. Có lẽ vua Lư Công Uẩn đă nh́n thấy “Rồng” thật, không phải giấc mơ, cũng không phải tưởng tượng. Toàn bộ các ḍng sông đều chảy quy tụ về động mạch chủ là sông Hồng. “Văn minh Sông Hồng” là quy tụ các nền văn minh của các ḍng sông th́ giá trị được tăng lên gấp bội. Đó chính là thế của “núi chầu, sông tụ”. Một người uyên bác như vua Lư Công Uẩn, với sự đóng góp trí tuệ của người thầy là Thiền sư Vạn Hạnh, đă sớm phát hiện ra thế đất có cấu trúc phong thuỷ quư hiển này th́ việc ban chiếu dời Đô về đây, đặt tên Kinh thành Thăng Long là một quyết định vô cùng thông minh và chuẩn xác.

Dưới đây là dích  dẫn Chiếu dời đô của Lư Công Uẩn

"Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các Vua thời Tam đại ấy theo ư riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ư dân, nếu có chỗ tiện th́ dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ư riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư măi muôn đời. Trẫm muôn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”.

Việc dời đô từ Hoa Lư lên Thăng Long là một sự kiện lịch sử quan trọng báo hiệu sự thống nhất đất nước và sự tập trung chính quyền về Trung ương đă thực hiện được ở Việt Nam. Đó là điều chưa có trong các thời đại trước và rất cần thiết để đẩy mạnh sự phát triển xă hội và bảo đảm lâu dài nền độc lập của Tổ quốc. Sau khi dời đô về Hà Nội, Vua Lư Thái Tổ chỉnh đốn lại việc cai trị, chia đất nước làm 24 lộ. Kinh đô Thăng Long được xây dựng thành 2 khu riêng biệt: Khu Hoàng Thành, nơi có các cung điện hoàng gia và nơi thiết triều, khu dân sự, nơi dân cư sinh sống thành phường nghề.

Kinh thành được bao bọc bởi một ṭa thành bằng đất phát triển từ đê của 3 con sông: Sông Hồng ở phía Đông, sông Tô ở phía Bắc và phía Tây và sông Kim Ngưu ở phía Nam, đây là công tŕnh xây dựng thành lũy lớn nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam.

Theo ư kiến GS Trần Quốc Vượng, Chiếu dời đô đă khẳng định được vai tṛ của kinh đô Thăng Long, nó được coi là tác phẩm khai sáng văn học Hà Nội và triều Lư. Tuy nhiên, chiếu dời đô chưa nêu bật được tinh thần dân tộc và khát vọng độc lập, hơn nữa ngôn ngữ sử dụng trong văn bản này mang đượm màu sắc dị đoan, phong thủy.

Phần 2

Cinet tổng hợp (c̣n tiếp…)