1.GIỚI THIỆU CHUNG

Chương trình phát triển du lịch Quốc gia nhằm các mục đích sau: đánh giá những thay đổi của ngành du lịch trong những năm gần đây; đề ra chính sách tăng cường phát triển du lịch và biện pháp thực hiện nhằm đẩy mạnh sự phát triển của ngành du lịch Lithuanian; xác định những ưu tiên hàng đầu về sự hỗ trợ từ phía nhà nước, tăng cường và vốn đầu tư vào lĩnh vực du lịch; mở rộng quy mô phát triển cả du lịch trong nước và quốc tế; đẩy mạnh ngành công nghiệp xuất khẩu; tìm ra phương thức hành động nhằm xây dựng hình ảnh và quảng bá về du lịch của đất nước Lithuania.

Chương trình tập trung vào ngành dịch vụ với vai trò sản xuất ra các sản phẩm du lịch trên phạm vi lớn và xác định đối tượng tiếp cận của các loại dịch vụ này. Những người dân trong nước và du khách quốc tế là những đối tượng sử dụng các dịch vụ du lịch. Ngành du lịch tiến hành các hoạt động như tổ chức thăm quan, sắp xếp chỗ ăn ở, phục vụ, thông tin, giải trí, cho thuê cũng như bất kỳ dịch vụ nào khác liên quan đến lĩnh vực du lịch.

Du khách là một người đi thăm quan các khu vực trong nước hoặc đi qua một đất nước nào đó nhằm mục đích giáo dục, thực tế, tìm hiểu về các dân tộc, văn hóa, giải trí, tôn giáo hoặc các mục đích đặc biệt khác và ở lại đó ít nhất một đêm (không quá một năm) ngoài nơi thường trú của họ. Mục đích của các chuyến đi này không phải vì muốn nhận được tiền thù lao mà họ được trả tại đất nước mà họ đến thăm hoặc tại đất nước họ sinh sống lâu dài.

Du lịch nước ngoài là một biện pháp hiệu quả trong việc tăng mặt hàng xuất khẩu của các dịch vụ trong nước và tăng cường sử dụng các nguồn du lịch cũng như duy trì và bảo tồn chúng. Du lịch nước ngoài là một trong những phương thức hiệu quả nhất nhằm quảng bá và tạo dựng hình ảnh về đất nước Lithuania ra thế giới.

Du lịch trong nước cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các dịch vụ du lịch. Các chuyến du lịch của những người dân Lithuania mang lại nhiều giá trị khi họ ngày càng trở nên gắn bó với quê hương của mình, tạo tính cá nhân và dạy cho họ về những giá trị văn hóa và tự nhiên cao quý. Du lịch trong nước cũng là một phương tiện giải trí góp phần quan trọng vào tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân nơi đây.

Tính đa dạng và sự cung cấp các dịch vụ du lịch có ảnh hưởng đến mức độ sử dụng tương ứng; nói cách khác, khả năng chi trả của một người sử dụng sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng và nhu cầu của các loại dịch vụ khác nhau. Về mặt kinh tế, thị trường xác định mối quan hệ giữa nhà cung cấp và người sử dụng; vì vậy tình trạng của người sử dụng trong nước hoặc nước ngoài là một quan điểm mang tính chất thống kê và xã hội.

Trong khi soạn thảo chương trình này, những thành công đã đạt được từ chương trình phát triển du lịch quốc gia năm 1993 đã được chú trọng và phân tích kỹ lưỡng. Nhiều giải pháp được đưa ra trong chương trình trước hiện đang được thực hiện. Đó là lý do tại sao một chương trình mới được soạn thảo sẽ tập trung vào việc tìm ra nhiều phương thức nhằm phát triển các sản phẩm du lịch và tăng khả năng truyền tải các thông tin về du lịch và dịch vụ cả trong nước và trên thế giới. Nhằm phát triển các loại hình du lịch đích bao gồm du lịch văn hóa và du lịch nông thôn, các chương trình mục tiêu hiện đang được xây dựng; vì vậy Chương trình Phát triển Du lịch Quốc gia chỉ tập trung vào các lĩnh vực chính của các loại hình du lịch này.

 

2..  CÁC ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT

2.1 Các điều kiện tiên quyết chung

2.1.1 Hiện nay ở Lithuania, ngành du lịch được tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển như: vị trí địa lý thuận lợi, dồi dào nguồn du lịch; lợi ích chung của các nhóm dân tộc khác nhau ở Lithuania; xây dựng các mối quan hệ mới trong thời gian gần đây; phát triển hình ảnh Lithuania - một đất nước du lịch trên cả thị trường trong nước và quốc tế; các thị trường du lịch lân cận dồi dào; mối quan tâm về Lithuania như một vùng đất mới dành cho du lịch.

2.1.2 Các điều kiện tiên quyết chính về kinh tế và xã hội cho sự phát triển của du lịch bao gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế đều và nền kinh tế vĩ mô phát triển ổn định; đầu tư nước ngoài gia tăng; quá trình tư nhân hóa nhằm mở rộng phạm vi buôn bán thương mại nước ngoài và các mối quan hệ quốc tế của Lithuania; nâng cao mức sống và khả năng về tài chính của người dân; sử dụng năng lực sản xuất mới và nguồn năng lực hiện thới, tuyển dụng và tạo nhiều việc làm mới.

2.2 Các điều kiện tiên quyết hậu cần

2.2.1 Hệ thống giao thông.

Lithuania có thể được tiếp cận bằng mọi phương tiện giao thông. Do vị trí địa lý, Lithuania trở thành nước quá cảnh của các quốc gia thuộc Tây Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập. Ngoài ra, nước này cũng là một hành lang giao thông Bắc Nam với nhiều tiềm năng phát triển. Chương trình Phát triển giao thông hiện đang được áp dụng đã tạo một nền tảng thuận lợi cho sự hội nhập của các hệ thống giao thông của Lithuania vào mạng lưới cơ sở hạ tầng giao thông của châu Âu; quan trọng hơn nữa là chương trình đã tạo những điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế phát triển bên trong ngành du lịch và tăng cường phát triển du lịch quốc tế của Lithuania. Do vậy, du lịch là một phương tiện quan trọng để đem lại các nguồn đầu tư cho đất nước. Sân bay là một cơ sở hạ tầng rất phát triển đối với các khách hàng và dịch vụ du lịch bằng đường hàng không. Tuy nhiên, đại diện của các tập đoàn khách sạn quốc tế và các công ty du lịch lớn yêu cầu mở rộng sân bay và tăng cường kết nối giữa các đường bay tới thành phố của Lithuania. Đất nước này là tuyến đường sắt quá cảnh cho các nước vì vậy nó rất hấp dẫn đối với người dân của Cộng đồng các quốc gia độc lập. Ô tô rất phổ biến và là phương tiện giao thông du lịch được sử dụng nhiều nhất tại quốc gia này. Do đó, tăng cường nâng cao chất lượng đường xá trong nước đặc biệt các vỉa hè và đảm bảo tăng mạnh số lượng khách thăm quan bằng xe ô tô tại Lithuania. Giao thông đường biển là phương tiện đóng góp ít nhất cho sự phát triển của du lịch  - hiện nay, chỉ có bốn tuyến đường biển đang hoạt động. Cảng biển Klaipeda không có nhà đón khách hiện đại; các du khách được chở trên các con tàu hàng hóa. Không có một sự liên kết nào giữa các nước Scandinavy và không có cả du lịch bằng tàu thủy và du lịch bằng thuyền trên biển. Đó là một vấn đề cần giải quyết thông qua việc chú trọng phát triển các hoạt động giao thông và độ tin cậy của chúng trong các thành phố lớn của Lithuania.

Đặc biệt hệ thống giao thông của thành phố Vilnius hiện đang là vấn đề nan giải nhất cần giải quyết khi nó không được chú trọng xây dựng để phát triển là thủ đô của đất nước, do đó, nó không thể đáp ứng được những yêu cầu về quản lý hoặc kinh doanh của người dân địa phương và những yêu cầu trong trường hợp khẩn thiết của các khu vực khác trên lãnh thổ. Sự trợ giúp từ phía nhà nước dành cho cơ sở hạ tầng hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu hiện nay và người dân cùng phương tiện giao thông nên được hỗ trợ từ nhà nước khoảng 1,5% tổng  thu nhập quốc dân theo như những đề nghị của các nước thuộc Ủy ban châu Âu.

2.2.2 Các hệ thống thông tin liên lạc

Bất kỳ nước nào ở châu Âu và các nước khác trên thế giới có thể được tiếp cận trực tiếp từ bất kỳ nơi nào thuộc Lithuania. Trong quá trình thực hiện Chương trình Phát triển Thông tin Liên lạc, mạng lưới thông tin liên lạc hiện nay của Lithuania được hiện đại hóa, đã góp phần tạo những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch.

2.2.3 Mạng lưới phòng ở phục vụ du lịch

Vào năm 1997, mạng lưới phục vụ phòng ở cho khách du lịch bao gồm 166 khách sạn, 20 khách sạn cạnh đường quốc lộ cho các du khách có ô tô, 7 cơ sở du lịch, 4 nơi cắm trại, 285 khu nhà nghỉ được xây dựng cho khách du lịch thuê trong đó có tới 239 khu nhà nghỉ chỉ hoạt động vào những mùa du lịch nhất định, 32 viện điều dưỡng và nhà nghỉ tư nhân dành cho khách du lịch. Trong 4 năm qua, số lượng nhà nghỉ, khách sạn phục vụ du lịch tăng gấp rưỡi. Các khu nhà nghỉ hiện nay đang được cải tạo và sau đó phát triển thành các khách sạn hiện đại. Tuy nhiên, do thiếu nguồn vốn, một phần của các nhà nghỉ này đã không được sử dụng và bắt đầu bị phá hủy.(Có 321 nhà nghỉ hoạt động vào năm 1995).

Trong lĩnh vực phát triển các khu nghỉ dành cho khách du lịch, một vấn đề nảy sinh hiện nay là tình trạng thiếu các khu nghỉ bên cạnh đường dành cho du khách có ô tô và các khu nghỉ cắm trại. Một vấn đề khác mà mạng lưới các loại hình ăn ở phục vụ du lịch đang phải đối mặt là sự thực rằng nhiều khu nhà nghỉ như vậy đang được thiết kế và xây dựng theo tiêu chuẩn của thời Liên Xô, không xem xét các điều kiện của thị trường. Thậm chí những mẫu thiết kế và giới hạn hiện nay được áp dụng đã coi thường những yêu cầu của thị trường và cản trở du lịch phát triển.

2.3. Những điều kiện tiên quyết về mặt pháp lý

Ngành du lịch được điều hành hoạt động trực tiếp thông qua Luật Du lịch của nước Cộng hòa Lithuania. Theo các quy định của Luật này, có nhiều phương tiện được xác định liên quan đến các chính sách và kế hoạch phát triển du lịch của quốc gia như Chương Trình Phát triển Du lịch Quốc gia và các dự án khu vực. Chính phủ tự cam kết sẽ tiến hành những hoạt động sau để phát triển du lịch: tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình cấp hộ chiếu cũng như tiến hành các chức năng của các điểm kiểm tra và thủ tục hải quan đối với các du khách trong nước và quốc tế; đề ra chính sách về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách quốc tế và cho ngành du lịch nói chung; thành lập hệ thống thông tin du lịch và xây dựng hình ảnh du lịch của một quốc gia, điều hành việc sử dụng và bảo vệ các nguồn du lịch.

Du lịch nội địa và quốc tế được định nghĩa trong Luật như là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu của nhà nước về dịch vụ xuất khẩu. Những yêu cầu tối thiểu của dịch vụ du lịch được đưa ra sẽ giúp những đại diện du lịch hợp lý hóa công việc kinh doanh của họ, hạn chế các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến hình ảnh của ngành du lịch và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, các dịch vụ du lịch được định nghĩa trong một bối cảnh khi mà ngành du lịch với quy mô vừa và nhỏ được điều hành bởi các Luật khác như Luật về các khu vực được bảo vệ và các quy định của pháp luật được thông qua mà không có sự đánh giá về những nhu cầu và các vấn đề cũng như ảnh hưởng đến ngành du lịch và sự phát triển của nó. Kết quả là những lĩnh vực pháp lý tiêu cực không mang lại những thuận lợi cho ngành du lịch phát triển về mặt tổ chức hoặc thu hút đầu tư ngày càng hoạt động công khai. Cơ sở pháp lý nên được bổ xung các quy định về sử dụng và xây dựng các nguồn du lịch.

2.4 Các điều kiện tiên quyết về tổ chức

Các hoạt động du lịch liên quan trực tiếp đến một loạt các lĩnh vực kinh tế và công cộng, đồng thời được quy định bởi các mối quan hệ liên Chính phủ. Vì vậy, các lợi ích của ngành du lịch được thể hiện dưới hình thức liên bộ. Liên kết các hoạt động du lịch cùng với sự phân bổ và thực hiện các chức năng được thực hiện bởi các tổ chức chính quyền trung ương và địa phương. Luật Du lịch xác định các chức năng du lịch đối với các ban ngành thuộc các thành phố và địa phương. Cho đến nay, cơ cấu về mặt tổ chức du lịch được kiện toàn tại một số các khu vực và thành phố. Vấn đề lớn nhất ở đây là phạm vi quyền lực được quy định đối với các tổ chức công cộng trong việc giải quyết các vấn đề du lịch liên bộ cũng như thiếu sự liên kết giữa các hoạt động bao gồm cung cấp thông tin du lịch.

2.5 Xây dựng hình ảnh quốc gia về du lịch

2.5.1. Tầm quan trọng của du lịch

Các dịch vụ thông tin cho du khách, sử dùng các nguồn du lịch và cơ hội không chỉ nhằm mục đích xác định mà còn nhằm kiểm tra việc xây dựng hình ảnh của một đất nước du lịch trên toàn thế giới. Các tổ chức tham gia vào hoạt động xây dựng hình ảnh du lịch quốc gia là các tổ chức kinh tế với chức năng tạo ra, bán và quáng bá các dịch vụ du lịch nhất định; các tổ chức công với chức năng tiến hành các hoạt động bảo vệ và kiểm soát du lịch văn hóa và thiên nhiên cũng như quy định và lập kế hoạch phát triển ngành du lịch, tuyên truyền thông tin, loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng xấu việc thu hút khách du lịch đến với đất nước này. Một phần ba các nhà báo từ các công ty du lịch nước ngoài nhấn mạnh vào các vấn đề chủ yếu sau hiện đang cản trở việc xây dựng hình ảnh của đất nước: thiếu tiện nghi về nhà ở phục vu du khách, đặc biệt ở Vilnius; thiếu văn hóa dịch vụ, khu giải trí, các nhà vệ sinh công cộng cũng trong tình trạng tồi tệ, chưa thực hiện đúng chức năng của các trạm kiểm tra biên giới và thủ tục hải quan, khó khăn trong việc cấp hộ chiếu cho các du khách đến từ CIS, thiếu sự liên kết về thông tin du lịch.

2.5.2. Các yếu tố tiêu cực.

Các yếu tố làm giảm sức hấp dẫn của đất nước đối với du khách bao gồm: hạn chế về chỗ ăn ở cho du khách, thiếu các khách sạn của các tập đoàn khách sạn lớn trên thế giới, đặc biệt ngành công nghiệp giải trí kém phát triển; thiếu tiền đề vững chắc cho việc tổ chức các hội nghị quốc tế và những tiền đề hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu; hạn chế trong cách thể hiện và không chuẩn bị kỹ lưỡng cho các giá trị tự nhiên và văn hóa về du lịch; thiếu thông tin về các dịch vụ du lịch cũng như các đối tượng và khu vực quan tâm của du khách; những thông tin tiêu cực hoặc bị bóp méo về đất nước Lithuania trên các phương tiện truyền thông quốc tế; tình hình tội phạm; các vấn đề về cấp hộ chiếu và thủ tục hải quan tại các điểm kiểm tra vùng biên giới.

2.6. Các biện pháp và hành động ưu tiên

2.6.1. Giải quyết các vấn đề liên quan đến việc xây dựng cảng biển Klaipeda và cầu tàu ở Palâng cũng như tăng số lượng lộ trình du lịch bằng đường biển tới các nước Scandinavia.

2.6.2. Giúp các khu vực bao gồm các thành phố và thị trấn phân tích khả năng và tiến hành các biện pháp cần thiết để nhằm xây dựng lại các tuyến hành trình trên con sông Nemunas và các cầu tàu ở Lithuania;

2.6.3. Hỗ trợ các khu vực bao gồm các thành phố và thị trấn chuẩn bị các thiết kế xây dựng khu giải trí, khách sạn và đối tượng của dịch vụ giao thông đường bộ cũng như tiến hành các biện pháp liên quan;

2.6.4. Xem xét lại và tiến hành những thay đổi cần thiết để ban hành luật và các quy định về việc phân bổ, cho thuê, sử dụng, thiết kế liên kết giữa các khu vực nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển của cơ sở hạ tầng phục vu giải trí du lịch và khuyến khích đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực du lịch ở Lithuania.

2.6.5. Ban hành những quy định đặc biệt về quản lý xây dựng kế hoạch phát triển Giải trí và Du lịch đồng thời đề ra các nguyên tắc liên quan đến việc lắp đặt và sử dụng các khu giải trí.

2.6.6. Tiến hành các biện pháp quản lý các khu nghỉ mát và viện điều dưỡng theo đúng quy định của pháp luật;

2.6.7. Tăng cường phạm vi quản lý của các tổ chức công, chính quyền các địa phương và các công viên quốc gia trong việc thực hiện chính sách du lịch dưới hình thức khuyến khích họ tham gia vào quá trình đề ra những giải pháp và liên kết lại nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến du lịch (thuế, buôn bán, sử dụng, quy hoạch lãnh thổ nhằm bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa (nguồn du lịch)...vv);

2.6.8. Tăng cường chức năng hoạt động của các tổ chức du lịch trong quá trình xây dựng hình ảnh của đất nước.

 

3. CÁC NGUỒN VÀ DỊCH VỤ DU LỊCH

3.1. Các nguồn du lịch tự nhiên

Rừng, hồ, sông, biển Baltic, kết cấu địa lý - hình thái học đặc biệt, và những phong cảnh tuyệt đẹp là nguồn phục vụ cho phát triển du lịch khi chúng chiếm khoảng một phần ba toàn bộ lãnh thổ của Lithuania. Những người dân ở các vùng đất tham gia vào phát triển du lịch ước đạt 60 triệu người/ năm. Lithuania có 5 công viên quốc gia và 30 công viên khu vực (chiếm 8.6% tổng diện tích đất cả nước) đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch. Vừng biển của Lithuania với kết cấu tự nhiên đa dạng tạo điều kiện tốt nhất hiện có cho phát triển du lịch trên toàn bộ khu vực Biển Baltic. Một phần ba khu rừng hiện nay rất phù hợp để phát triển loại hình du lịch thăm quan và săn bắn. Mạng lưới sông ngòi và hồ của đất nước này có thể tận dụng để phát triển du lịch đường thủy. 194 công viên, 353 các di sản thiên nhiên và 130 hồ tự nhiên đang được bảo vệ có thể cũng là những giá trị du lịch mang tính giáo dục rất lớn. Các nguồn du lịch tự nhiên này không nên chỉ được bảo vệ như là những tài sản của thiên nhiên cần được sử dụng để phát triển loại hình du lịch và giải trí nhằm mở rộng vốn kiến thức của du khách thăm quan.

Các nguồn này hiện đang bị ngăn cản sử dụng cho mục đích phát triển du lịch do các yếu tố như: không sẵn có, thiếu các cơ sở phục vụ giải trí và ăn ở hoặc không đáp ứng được các tiêu chuẩn về vệ sinh, thiếu thông tin, sự trì trệ của các chính quyền địa phương và vị thế của người mà được gọi là “Người phụ thuộc”.

Việc sử dụng các nguồn này không nhằm vào khách du lịch sẽ rất có hại cho công tác bảo vệ chúng và giảm sự hấp dẫn đối với khách thăm quan.

3.2. Các nguồn du lịch văn hóa

Sự đa dạng của các di sản văn hóa với hơn 10 ngàn đồ vật lịch sử được bao gồm trong một công trình tưởng niệm đã góp phần tạo ra những điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của ngành du lịch. Tuy nhiên, chỉ có 350 đồ vật lịch sử hiện đang thu hút sự quan tâm của du khách nước ngoài, một lượng lớn các đồ vật này được sử dụng ít hơn trên cả nước. Lithuania là một thành viên tích cực tham gia vào dự án Con đường Ba rốc của châu Âu. Nước này cũng tham gia vào các dự án Con đường Amber và Hanza. Các tòa lâu đài, khu phố, trang viên, tu viện cổ trở thành các sản phẩm riêng phục vụ cho phát triển du lịch văn hóa. Các nguồn quan trọng khác của du lịch văn hóa là các bảo tàng, triển lãm và trung tâm nghệ thuật, nhà hát, nghề thủ công và văn hóa dân tộc. Những khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với nền độc lập của Lithuania bao gồm các khu phố cổ, công trình kiến trúc thiêng liêng, mỹ thuật, kết cấu dân tộc đa dạng, các bảo tàng địa phương và nghệ thuật dân gian, Trung tâm văn hóa và các sự kiện âm nhạc - tất cả vẫn chưa được sử dụng cho vạch ra những lộ trình du lịch hấp dẫn mới đối với du khách. Vấn đề chính là các đồ vật này không sẵn có cho các du khách nước ngoài thăm quan, các hoạt động quảng bá chưa hiệu quả, sự quan tâm chưa đúng mức tới phát triển du lịch. Sử dụng các di sản văn hóa trong phát triển du lịch đã được chú trọng trong Chương trình Phát triển Du lịch Quốc gia với việc đưa ra ba cách thức sử dụng các di sản này: trưng bày, kết cấu lại và phối hợp. Ngân sách hạn hẹp của nhà nước dành cho du lịch khiến cho ngành này không thể tiến hành sử dụng nhiều đồ vật thuộc di sản tự nhiên vào mục đích văn hóa và du lịch. Vì vậy, nên xác định một cơ chế hoạt động nhằm tìm ra phương cách mà thông qua đó các nguồn tài chính tư nhân nên được sử dụng như một hình thức lựa chọn để tiến hành các chính sách về tài chính văn hóa và được xem như một khả năng hủy hoại các di sản tự nhiên. Các điều kiện về kinh tế và pháp lý cũng như thủ tục cho thuê và tư nhân hóa các di sản văn hóa nên được điều chỉnh để cung cấp các dịch vụ du lịch. Tổ chức các hoạt động của bảo tàng nên theo định hướng thị trường; địa điểm và cách thức trưng bày của các bảo tàng quan trọng quốc gia nên được mở rộng. Nói chung, các biện pháp quảng bá nên được áp dụng trong lĩnh vực văn hóa; các hoạt động nên được định hướng theo nhu cầu của người tiêu dùng và liên kết với các công ty cung cấp dịch vụ du lịch. Du lịch văn hóa và sự phát triển năng động cho thấy khả năng có thể làm giảm giá trị của các di sản đồng thời cũng là một phương thức hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức của người dân và sự gắn bó với quê hương của họ và quảng bá hình ảnh về đất nước Lithuania ra cộng đồng quốc tế.

3.3. Nguồn nhân lực

Rất nhiều các công ty du lịch đang hoạt động trên lãnh thổ Lithuania phát triển du lịch nước ngoài. Một lượng lớn các nhân viên phục vụ ngành du lịch như dịch vụ du lịch nước ngoài chiếm hơn 4 - 5% tổng số lao động của Lithuania (73 nghìn người). Trong lĩnh vực cung cấp chỗ ăn ở cho du khách đặc biệt là hoạt động của các khách sạn thu hut nhiều nhân lực lao động ở nước này. Tuy nhiên, thiếu sự quan tâm săn sóc tới khách hàng là đặc điểm thứ yếu của các nhân viên phục vụ trong ngành dịch vụ.

3.4. Dịch vụ ăn ở

Chất lượng của một sản phẩm du lịch của Lithuania chủ yếu được quyết định bởi các công ty cung cấp dịch vụ ăn ở và các viện điều dưỡng với 37,7 nghìn địa điểm sẵn có trong năm 1997. Có khoảng 60 nghìn địa điểm cung cấp chỗ nghỉ cho du khách bao gồm các khu nhà ở liên Bộ và nhà dân cho thuê.(vào năm 1992, có khoảng 62,4 nghìn khu nhà ở cho du khách thuê). Số lượng khách sạn cung cấp chỗ ăn ở giảm từ 10,854 vào năm 1992 xuống còn 9,098 vào năm 1997. Nhìn chung, mức độ cung cấp dịch vụ ăn ở vẫn ở mức thấp do không có nguồn kinh phí đầu tư nên các khách sạn lớn không có điều kiện nâng cao chất lượng dịch vụ trong khi phần lớn các khu nghỉ mát và viện điều dưỡng cho thấy rất ít dấu hiệu của sự đầu tư và nâng cấp chất lượng phục vụ. Mặc dù sự thật rằng chỉ có 32% công xuất của các khách sạn được sử dụng trong năm 1997(với các khách sạn nhỏ, con số tương ứng đạt ở mức 80%). Các thành phố lớn phải đối mặt với vấn đề thiếu khách sạn chất lượng cao và đủ điều kiện để tổ chức các hội nghị quốc tế hoặc các khách sạn lớn phát triển triển theo định hướng du lịch. Tại các địa phương, vấn đề nằm ở chỗ, các khách sạn thiếu về số lượng và kém về chất lượng. Vấn đề này không thể được giải quyết do lượng khách du lịch ngày càng giảm. Trình độ quản lý và quảng bá du lịch duy trì ở mức thấp. Do luợng khách du lịch ngày càng giảm từ các nước láng giếng phía đông và lượng khách du lịch đến từ phương tây cũng không tăng mạnh, chất lượng của các dịch vụ cung cấp chỗ ở không được cải thiện và không thu hút đầu tư nước ngoài cho lĩnh vực này.

Các du khách đến từ các nước phương tây khiến cho nước này phải đối mặt với vấn đề khan hiếm các khu nghỉ mát. Điều này đang cản trở sự phát triển của ngành du lịch bằng xe ô tô. Các khách sạn phục vụ giải trí và các khu nhà nghỉ chỉ hoạt động theo mùa trong khi hệ thống thuế không góp phần giải quyết vấn đề này.

3.5. Các dịch vụ giao thông

Ở Lithuania, du khách có thể sử dụng các dịch vụ giao thông bằng đường hàng không, đường bộ và đường thủy. Các du khách nước ngoài không hài lòng với mạng lưới đường sắt của đất nước này do chất lượng phục vụ kém. Nếu du khách muốn đi du lịch bằng đường bộ, ô tô là phương tiện duy nhất dành cho họ. Chất lượng các dịch vụ giao thông phụ thuộc trực tiếp vào thực tế nếu hệ thống giao thông được cải tiến dần dần và chất lượng cùng với văn hóa dịch vụ được nâng cao hay nếu các nhà ga được nâng cấp và hiện đại hóa.

3.6. Các dịch vụ cung cấp thực phẩm

Dịch vụ cung cấp thực phẩm là một trong những dịch vụ du lịch phát triển nhanh nhất hiện nay bởi vì phần lớn những người sử dụng các dịch vụ cung cấp thực phẩm chủ yếu được cung cấp bởi những người dân địa phương nên không đòi hỏi sự đầu tư quá lớn cho lĩnh vực này. Mục tiêu của các công ty cung cấp thực phẩm hàng đầu là tập trung vào các thành phố lớn và các khu điều dưỡng. Do nhu cầu cung cấp thực phẩm của người dân  và quá trình tư nhân hóa ngày càng giảm, số lượng các công ty cung cấp thực phẩm tại các địa phương cũng giảm hẳn. Tuy nhiên, tình hình hiện nay đang bắt đầu có những thay đổi so với các năm trước do nhu cầu về loại hình dịch vụ này đang tăng dần. Hiện nay vẫn còn khả năng cải thiện tình hành của ngành cung cấp dịch vụ thực phẩm và văn hóa dịch vụ ở Lithuania.

3.7. Các hoạt động giải trí

Một trong lý do mọi người đi du lịch là nhằm mục đích làm một điều gì đó đặc biệt trong thời gian rảnh rỗi và giải trí ở những khu nghỉ mát. Tuy nhiên điều này lại nảy sinh ra một vấn đề lớn ở Lithuania. Cho đến nay, Lithuania hấp dẫn khách du lịch ở các giá trị về văn hóa và tự nhiên. Không một nỗ lực nào được thực hiện nhằm phát triển tiềm năng du lịch, sáng kiến của các địa phương không được khuyến khích, môi trường đầu tư không tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành du lịch. Vì vậy, các thành phố nên phát triển các dự án đầu tư về các trung tâm giải trí cũng như đề ra phương thức hoạt động hiệu quả. Các trung tâm giải trí hoạt động tại các khu nghỉ mát có thể giúp duy trì mùa du lịch và giải quyết vấn đề về cung cấp chỗ ở cho du khách. Sự phát triển của các loại hình giải trí bị cản trở bởi những giới hạn không phân biệt theo Luật về Các khu vực được bảo vệ (ví dụ như việc áp dụng đối với các cơ sở vật chất phục vụ ngành du lịch trên biển), cấm cung cấp các dịch vụ sòng bạc. Những tiềm năng lớn về âm nhạc hoặc kịch của Lithuania hiện không được khai thác đúng mức do thiếu các tổ chức sáng tạo độc lập hoặc do Bộ Văn hóa không cung cấp cho các công ty du lịch và các tổ chức khác kế hoạch tổ chức các sự kiện văn hóa và âm nhạc.

3.8. Các dịch vụ thông tin du lịch

Các hướng dẫn viên du lịch, các trung tâm du lịch và các tổ chức cá nhân khác có nhiệm vụ cung cấp các thông tin du lịch. Luật Du lịch quy định rõ việc cung cấp các dịch vụ này. Có khoảng 16 Trung tâm Thông tin Du lịch đang hoạt động ở Lithuania. Các dịch vụ của các trung tâm này được sử dụng bởi cả khách du lịch trong nước và quốc tế. Chức năng của các trung tâm này là tăng lượng khách du lịch đến thăm quan tại đất nước này và cung cấp thông tin cho họ. Các trung tâm Thông tin du lịch tại Lithuania do các cơ quan hành chính địa phương hoặc chính quyền các thành phố thành lập dựa trên những kinh nghiệm của các nước phương tây. Những vấn đề nan giải nhất hiện nay là  thiếu hiểu biết và sự quan tâm tới hoạt động này tại các khu vực giải trí, thiếu kinh nghiệm và sự hợp tác cùng với hệ thống hoặc mạng lưới thông tin hiện thời còn kém hiệu quả.

3.9. Các dịch vụ khác

Các dịch vụ du lịch bao gồm các dịch vụ hàng ngày như buôn bán, môi giới tài chính, dịch vụ cho thuê, dịch vụ y tế và vệ sinh. Các du khách nước ngoài chưa hài lòng về các dịch vụ du lịch chất lượng trong khi dịch vụ vệ sinh không đáp ứng được thậm chí nhu cầu của người dân trong nước.

3.10. Du lịch Nông thôn

Sự giàu có và đa dạng về mặt tự nhiên của các khu vực nông thôn nơi có những di sản thiên nhiên và mạng lưới giao thông đường bộ chất lượng tốt đã góp phần vào sự phát triển của ngành du lịch nông thôn. Du lịch nông thôn đang ngày càng phát triển đối với những người dân thành phố. Do vậy, du lịch nông thôn được xem như một ngành kinh doanh hỗ trợ cho sự phát triển của các vùng nông thôn với việc tạo ra 30- 40%  tổng thu nhập; nó đang trở thành một định hướng quan trọng trong phát triển các vùng đồng bằng ít màu mỡ của đất nước. Những vấn đề này được thể hiện trong Chương trình Phát triển Du lịch Quốc gia. Hiện nay, 150 nông trang tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ du lịch nông thôn chất lượng cao và trung bình. Tuy nhiên, chất lượng nhà ở tại phần lớn các nông trang này nhằm cung cấp dịch vụ du lịch không đáp được tiêu chuẩn của du khách và kêu gọi tăng cường đầu tư hơn nữa cho ngành này. Phần lớn khách du lịch nông thôn đến từ các nước thuộc CIS. Người dân sống ở các vùng nông thôn không sẵn sàng đón nhận du khách nước ngoài (ngoại trừ các du khách đến từ Cộng đồng các quốc gia độc lập) và thiếu kinh nghiệm để tổ chức các sự kiện lớn (Những rào cản về thông tin và ngôn ngữ) cùng với sự yếu kém về năng lực kinh doanh. Miễn là các du khách trong nước ngày càng đa dạng và tăng về số lượng cùng với chất lượng và phạm vi của các dịch vụ được cải thiên và thông tin được truyền tải, du lịch nông thôn sẽ có nhiều cơ hội để trở thành một bộ phận quan trọng của kinh tế nông thôn. Các biện pháp liên quan đến chính sách và đầu tư sẽ giúp các nông dân nhận được sự hỗ trợ từ Quỹ Trợ giúp Nông thôn, Quỹ tài nguyên Rừng và các quỹ khác cùng với vật đền bù cho những giới hạn trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế. Nhà nước và các cấp chính quyền thành phố nên là những người tham gia tích cực trong hoạt động tuyên truyền thông tin và đào tạo các nhà cung cấp các dịch vụ du lịch nông thôn. Bởi vì du lịch nông thôn là một loại hình du lịch mang tính cá nhân, những hạn chế trong cách tiếp cận, tình hình tội phạm, thiếu thông tin là những cản trở lớn đối với người dân nông thôn trong quá trình tham gia các hoạt động này. Sự ưu tiên hàng đầu nên dành cho hoạt động phổ biến thông tin về du lịch nông thôn, cải tiến về cơ sở hạ tầng và đổi mới các hình thức đào tạo.

3.11. Các biện pháp và những ưu tiên trong hoạt động

3.11.1. Nhằm xây dựng và phát triển các kế hoạch tổ chức du lịch và các biện pháp thực hiện đối với các công viên quốc gia cũng như khuyến khích sự cải thiện về chất lượng nhà ở cho du khách.

3.11.2. Đối với các tổ chức chính quyền thuộc các thành phố chịu trách nhiệm về quản lý các công viên quốc gia - nhằm tăng cường các hoạt động của các khu giải trí, các hoạt động thông tin du lịch, thành lập các trung tâm thông tin du lịch.

3.11.3. Đưa ra những đề nghị và các biện pháp thực hiện đối với các trang viên và các di sản du lịch văn hóa khác.

3.11.4. Xây dựng cơ chế cho các hoạt động thu hút và áp dụng các nguồn tài chính như là một phần trong chính sách về tài chính đối với các di sản văn hóa thông qua việc tạo điều kiện cho thuê dài hạn đối với các di sản riêng biệt hoặc tư nhân hóa dẫn tới khuyến khích họ cung cấp các dịch vụ du lịch.

3.11.5. Khuyến khích đầu tư trong nước và quốc tế trong các hoạt động cải tạo các di sản văn hóa bằng cách xem xét lại và áp dụng các luật về Từ thiện, Hỗ trợ và Nhượng bộ, đồng thời loại bỏ cách thức làm việc quan liêu, giảm thời hạn đối với các dự án liên kết du lịch, phân biệt và hạn chế các yêu cầu.

3.11.6. Xác định các yêu cầu nói chung nhằm chuẩn bị cho việc trưng bày và đến thăm các đồ vật lịch sử có giá trị về văn hóa.

3.11.7. Đối với các thành phố lớn và các khu nghỉ mát chính của thành phố - nhằm đề ra kế hoạch chi tiết về xây dựng các trung tâm giải trí, các khu thương mại và giải trí bằng cách tạo khả năng thu hút nguồn đầu tư cá nhân vốn rất quan trọng trong quá trình thực hiện với một hồ sơ mời thầu được thông báo trên phạm vi toàn quốc.

3.11.8. Đề ra và tiến hành các biện pháp phát triển du lịch văn hóa và chuẩn bị những lộ trình du lịch văn hóa nhằm quảng bá hình ảnh về đất nước Lithuania.

3.11.9. Đề ra và thông qua các biện pháp hỗ trợ và thông tin về du lịch nông thôn.

3.11.10. Giải quyết vấn đề về mở rộng các bảo tàng quan trọng của quốc gia.

 

4. SỐ LƯỢNG DU KHÁCH VÀ XUẤT KHẨU CÁC DỊCH VỤ DU LỊCH

4.1. Du lịch nước ngoài

Số lượng các du khách nước ngoài đến Lithuania giảm cho đến năm 1995; Kể từ năm 1996 số lượng khách quốc tế có xu hướng tăng - lượng du khách nước ngoài đến Lithuania mỗi năm tăng tới 19% vào năm 1996 (ngoại trừ du khách đi bằng tàu hỏa) và năm 1997 tăng 6%. Dự báo vào năm 1998 lượng du khách quốc tế sẽ tăng trên 15%. Số lượng khách nước ngoài (những người ở lại một đêm tại Lithuania) trong năm 1996 là 829 nghìn người và trong năm 1997 là 1012 nghìn người ( tăng 22%). So với năm 1996, số lượng khách quốc tế ở lại Lithuania trong một đêm tại các công ty nhà nghỉ tăng 13% trong năm 1997. Trong năm 1997, lượng khách du lịch chủ yếu của năm 1996 đến từ các nước được phân chia như sau: Cộng đồng các quốc gia độc lập CIS chiếm 51% tổng số du khách hàng năm đến Lithuania, 34% đến từ Latvia và Estonia, 7% từ Ba lan và 2,1% từ Đức. 71% du khách đến Lithuania bằng đường bộ và 23% bằng đường sắt. Du khách nước ngoài chiếm 27% tổng số khách du lịch đến Lithuania (năm 1996 , con số này đạt 23%). Trong năm 1997, các khu nghỉ mát của Lithuania và các khu giải trí thu hút 245 nghìn du khách, trong đó chỉ có 15% là du khách nước ngoài. Họ chủ yếu đến từ Ba lan với 41%, 26% đến từ Belarus, 13% từ Nga và từ Đức là 8%. Không có một cuộc trưng cầu ý kiến được thực hiện đối với du khách trong nước.

4.2. Xuất khẩu các dịch vụ du lịch

Lượng du khách đến Lithuania trong năm 1997 có thể được phân chia theo mục đích của các chuyến đi du lịch như sau: 46% vì mục đích công việc, 29% du khách đến thăm bạn bè hoặc họ hàng, 15%  để du lịch giải trí và 10% còn lại cho các mục đích khác. Có khoảng 58 nghìn du khách đã sử dụng các dịch vụ của các công ty du lịch. Chi phí trung bình trên đầu người cho dịch vụ du lịch là 1,200 Litas (vào năm 1996, con số này là 1,130 Litas), mức chi phí trung bình tính theo ngày là 158 Litas (năm 1996 là 126 Litas), thơi gian của kỳ nghỉ trung bình là 8 ngày (năm 1996 là 9 ngày). Các con số này cho thấy du lịch của Lithuania chưa thực sự phát triển và rõ ràng khi du lịch ngày càng phát triển mạnh hơn, lượng du khách có xu hướng ngày càng giảm. Nếu ngành du lịch phát triển, xuất khẩu du lịch sẽ tăng, trong năm 1997 con số này chỉ đạt 300 đô la (bao gồm các dịch vụ du lịch và các hàng hóa sẵn có cho mỗi du khách). Tổng doanh thu từ ngành du lịch của Lithuania trong năm 1997 đạt 300 triệu đô la.

4.3. Các biện pháp và những ưu tiên hành động

4.3.1. Ưu tiên hàng đầu được dành cho các biện pháp nhằm phát triển du lịch kinh doanh và giải trí văn hóa và nông thôn.

4.3.2. Thành lập các tổ chức quốc tế và các trung tâm thương mại ở Lithuania thông qua việc tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong cuộc cạnh tranh với các nước khác nhằm tăng số lượng và quy mô của các sự kiện quốc tế và triển lãm được tổ chức tại Lithuania.

4.3.3. Đơn giản hóa các thủ tục nhập cảnh (các văn bản quy định) để thủ tục cấp hộ chiếu phù hợp với những quy định của Liên Minh châu Âu.

4.3.4. Tuân theo những quy định của EU và tìm phương cách cấp hộ chiếu miễn phí với nhiều nước thành viên khác.

4.3.5. Tăng cường hoạt động tại các điểm kiểm tra ở các vùng biên giới và tổ chức các quy trình kiểm tra song phương đối với khách du lịch...vv.

4.3.6. Nhằm mục đích đấu tranh chống lại nạn tội phạm thông qua việc đẩy mạnh hoạt động của các cơ quan cảnh sát tại các khu du lịch.

4.3.7. Cung cấp các thông tin đa dạng và hiệu quả hơn trên các phương tiện truyền thông nước ngoài về Lithuania.

4.3.8. Thực hiện cuộc trưng cầu dân ý về lĩnh vực du lịch; thành lập các đoàn kiểm tra hoạt động trong ngành du lịch và tiến hành các biện pháp giải quyết các vấn đề còn tồn đọng.

 

5. DOANH THU VÀ TRIỂN VỌNG CỦA NGÀNH DU LỊCH

5.1. Doanh thu của ngành du lịch

Theo các số liệu từ Ngân Hàng Lithuania, du lịch nước ngoài có doanh thu 1,428 triệu Litas trong năm 1997 bao gồm chi phí dành cho các loại hàng hóa và dịch vụ du lịch cung cấp cho du khách. Ngoài ra, các hàng vận tải của Lithuania thu được 157 triệu Litas từ hoạt động chuyên chở du khách nước ngoài trên các lộ trình du lịch quốc tế. Tương tự như vây, trong năm 1996, du lịch nước ngoài tạo doanh thu 1262,2 triệu Litas và các hàng vận tải là 117,5 triệu Litas.

Mức tăng hàng năm về doanh thu của ngành du lịch nước ngoài (bao gồm cả hoạt động chuyên chở) đạt 15,7%. Doanh thu từ du lịch nước ngoài vào năm 1997 ước đạt khoảng 408 triệu Litas (được thu từ năm loại thuế khác nhau và những khoản đóng góp về an ninh xã hội). Chỉ riêng thuế Giá trị gia tăng đã đạt 222 triệu Litas (chiếm khoảng 10% tổng doanh thu từ thuế Giá trị gia tăng của cả nước).

5.2. Các dự báo

Dự báo mức tăng trưởng của ngành du lịch quốc tế trong tổng sản lượng nội địa thời kỳ 1998-2002 sẽ đạt 0,6%  từ 4,2 lên 4,8%.  Những dự báo này dựa trên cơ sở xu hướng phát triển hiện nay về số lượng khách du lịch và những thay đổi hàng năm về GDP. Tổng doanh thu từ du lịch nước ngoài sẽ tăng từ 1,6 triệu Litas năm 1998 lên 1,89 triệu Litas trong năm 2002. Doanh thu sẽ đạt 500 triệu Litas. Những con số này có thể đạt được nếu lượng khách du lịch sẽ tăng từ 1,2 triệu trong năm 1998 lên 1,7 triệu trong năm 2002. Số lượng các khu giải trí tăng đáng kể từ 76 lên 90 nghìn. Lực lượng lao động tại các địa điểm cung cấp việc làm và việc tạo thêm nhiều địa điểm mới sẽ được xác định bằng việc tăng (hoặc giảm) số lượng khách du lịch nghĩa là các cơ hội tiếp cận, lượng vốn đầu tư trong ngành du lịch...vv. Các mùa hoạt động du lịch đặc biệt sẽ không thay đổi và sẽ dao động về số lượng lao động tham gia vào cung cấp các dịch vụ này.

5.3. Những biện pháp và hành động ưu tiên

5.3.1. Sử dụng các biện pháp do chính phủ và các thành phố đưa ra nhằm phát triển các sản phẩm du lịch của Lithuania và tăng tính cạnh tranh của chúng;

5.3.2. Tăng khả năng xuất khẩu các dịch vụ du lịch bằng cách làm thuận lợi các thủ tục nhập cảnh cho khách quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động quảng cáo các sản phẩm du lịch và truyền tải các thông tin liên quan;

5.3.3. Đảm bảo việc thực hiện và giảm sát các biện pháp hành động của chính phủ và các cấp chính quyền địa phương.

 

6. CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NGÀNH DU LỊCH

6.1. Cơ cấu và các cấp quản lý

Cơ cấu tổ chức của ngành du lịch bao gồm Cục Du lịch Quốc gia thuộc Bộ Cải Cách Hành chính Công và Chính quyền Địa Phương, các tổ chức khu vực và địa phương; Uỷ Ban Du lịch; hiệp hội các doanh nghiệp. Ngành du lịch nội địa do Cục Du lịch quốc gia quản lý với nhiệm vụ hỗ trợ cho Bộ Cải Cách Hành chính Công và Chính quyền Địa Phương cũng như cho các cơ quan hành chính khu vực và địa phương. Cục Du lịch Quốc gia đề ra và thực hiện các chương trình phát triển du lịch theo Luật Du lịch, liên kết các hoạt động du lịch của các đơn vị hành chính công, của các khu vực và địa phương, các hoạt động của các công viên quốc gia. Cục cũng điều chỉnh và đưa ra những kết luận về các văn bản liên quan đến hoạt động quản lý quy hoạch các khu du lịch và phát triển cơ sở hạ tầng du lịch cũng như thực hiện các chức năng do Luật quy định.

6.2. Quản lý khu vực

Các cơ quan quản lý của các khu vực và địa phương thực hiện quản lý du lịch có thể khuyến khích các dịch vụ du lịch thông qua việc điều chỉnh và lập kế hoạch nhằm đem lại lợi ích song phương. Bởi vì các dịch vụ du lịch hiện nay chỉ phát triển trên quy mô vừa và nhỏ, chính quyền các địa phương có thể áp dụng loại hình phát triển phù hợp và tiến hành các biện pháp quan trọng mà góp phần tạo ra các điều kiện ít nhiều có lợi cho sự phát triển du lịch, đồng thời sẽ tăng cường phát triển tiềm năng và tính cạnh tranh của khu vực. Hiện nay, nhiều tổ chức du lịch đang trong quá trình hình thành tại phần lớn các khu vực và địa phương trên cả nước.

6.3. Quản lý du lịch

Luật Du lịch đã quy định các phạm vi hoạt động của Ủy Ban Du lịch. Chức năng chính của Ủy Ban là bảo đảm cho những lợi ích của ngành du lịch trong quá trình thực hiện chính sách du lịch quốc gia. Ủy Ban cùng với các tổ chức du lịch tham gia vào sáng lập các luật dự thảo về du lịch và cách thức quảng cáo cho ngành du lịch phát triển. Ủy ban đóng vai trò tích cực trong quá trình phát triển của ngành du lịch.

6.4. Các biện pháp và hành động ưu tiên

6.4.1. Xây dựng và đào tạo đội ngũ nhân lực hoạt động trong các ban ngành quản lý cấp địa phương và khu vực để giải quyết các vấn đề liên quan đến du lịch;

6.4.2. Mở rộng mạng lưới các trung tâm thông tin du lịch;

6.4.3. Tổ chức và đảm bảo hoạt động của Ủy Ban du lịch.

 

7. NHỮNG THAY ĐỔI VỀ QUAN HỆ SỞ HỮU TRONG NGÀNH DU LỊCH

7.1. Quá trình tư nhân hóa

Trong suốt thời kỳ đầu tiên thực hiện tư nhân hóa (1991-1995), 50 công ty du lịch đã tiến hành tư nhân hóa một phần hoặc toàn bộ bao gồm 35 khách sạn và 82% các cơ sở giải trí công và thương mại đã lập kế hoạch tư nhân hóa. Số lượng các khách sạn tư nhân trong năm 1997 chiếm 70% tổng số các công ty cung cấp dịch vụ ăn ở cho du khách. Hiện nay, cần đẩy nhanh tốc độ tư nhân hóa các khách sạn nhà nước. Nhằm thúc đẩy quá trình tư nhân hóa các công ty cung cấp dịch vụ giải trí và chỗ ăn ở cho du khách, đặc biệt ở khu phố cổ, các công viên quốc gia và khu vực, những rào cản về hành chính và pháp luật nên được loại bỏ bởi vì chúng làm chậm lại quá trình tư nhân hóa cũng như cản trở việc đưa ra các quyết định về sở hữu đất đai. Những giới hạn trong hoạt động du lịch (hoạt động giải trí) do Luật Du lịch quy định nên được xem xét lại và được xác định một cách chi tiết; nhà nước nên lập ra các khoản bồi thường chính cho những giới hạn đối về quyền sở hữu.

7.2. Các biện pháp và ưu tiên hành động

7.2.1. Hoàn tất quá trình tư nhân hóa không chỉ tập trung vào định giá các công ty tư nhân hóa mà còn vào sự tăng lượng vốn đầu tư và sự tham gia của các công ty cung cấp dịch vụ ăn ở cho du khách hội nhập vào sự phát triển của các khách sạn quốc tế hiện nay. Biện pháp tốt nhất để đạt được mục đích này là mời thầu trên phạm vi quốc tế.

7.2.2. Nhằm giải quyết các vấn đề của các khu nghỉ mát ở Lithuania, một chiến lược phát triển các khu nghỉ mát nên được lập ra. Như là một biện pháp để tái xây dựng lại các khu nghỉ mát, một dự án có tổ chức cần phải được chuẩn bị.

 

8. ĐÀO TẠO VÀ NÂNG CAO CÁC CHUYÊN GIA DU LỊCH

8.1. Đào tạo các chuyên gia

Sự phát triển của ngành dịch vụ du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến việc đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch. Hiện nay, các chuyên gia du lịch được đào tạo ở các trường đại học ở Vilnius, Kaunas, Klaipeda, Siauliai, và Utena. Một loạt các trường mới được thành lập nhằm đào tạo các chuyên gia du lịch như Trường Du lịch Klaipeda, Trường Du lịch và các dịch vụ nội địa Silute. Giáo trình mới được đưa vào giảng dạy ở Trường Công nghiệp Ánh sáng Panevezys và các trung tâm thị trường lao động. Các giáo trình đào tạo về các lĩnh vực như quản lý khách sạn, quản lý du lịch, quản lý khách sạn và du lịch đã được đưa vào dạy trong quá trình đào tạo chuyên gia du lịch. Một khóa học về sự mến khách và tiếp tân được tổ chức tại các trường ở nông thôn. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tăng cường các kỹ năng của các chuyên gia về du lịch và đào tạo hoạt động đào tạo của các công ty du lịch.

8.2. Nhu cầu của các chuyên gia du lịch

Cho đến nay không có biện pháp nào được thực hiện nhằm phân tích và dự báo về nhu cầu của những chuyên gia du lịch. Những  dự báo ngắn hạn do Sở Lao động Lithuania và các cơ sở đào tạo cung cấp. Nhằm xác định những nhu cầu của các chuyên gia, một nhóm liên kết nên được thành lập bao gồm những đại diện của các Bộ Giáo Dục và Khoa Học, Bộ Lao động và An Ninh Xã Hội, Bộ Lâm nghiệp, Cục Du lịch và bất kỳ tổ chức du lịch nào. Giáo trình và các hoạt động đào tạo các chuyên gia nên được tiêu chuẩn hóa. Tất cả các tổ chức xã hội, bao gồm các giám đốc doanh nghiệp nên tham gia vào quá trình lập ra các tiêu chuẩn và đưa ra những yêu cầu cần thiết như đã được đề cập. Nhằm đạt được mục đích này, một nhóm các chuyên gia sẽ được thành lập ở Trung Tâm Đào tạo Chuyên Gia thuộc Bộ Giáo dục và Khoa học với nhiệm vụ xác định các ưu tiên trong đào tạo, tổ chức các quá trình tiêu chuẩn hóa, luôn xem xét lại và giám sát quá trình thực hiện. Các trường đại học  nên tham gia tích cực hơn vào các hoạt động đào tạo chuyên gia du lịch bằng cách sử dụng các giáo trình mới trong đào tạo chuyên gia du lịch và nghiên cứu các vấn đề đặc biệt.

8.3. Các biện pháp và hành động ưu tiên

8.3.1. Xây dựng và trang bị cơ sở vật chất cho hoạt động đào tạo đặc biệt, đưa ra những đề nghị về phương pháp giảng dạy và những trang thiết bị thông tin khoa học khác;

8.3.2. Xây dựng các tiêu chuẩn về đào tạo và giáo trình dành cho các chuyên gia du lịch;

8.3.3. Đưa ra dự báo về nhu cầu của chuyên gia du lịch đến năm 2005;

8.3.4. Tổ chức các khóa học về nâng cao kỹ năng cho nhân viên ngành du lịch, các chuyên gia du lịch khu vực và địa phương cùng với các giảng viên thuộc các tổ chức đào tạo liên quan.

8.3.5. Tổ chức và cung cấp tài chính cho các tổ chức đào tạo tham gia các cuộc triểm lãm du lịch trong nước và tổ chức các chuyến đi thực tế của các chuyên gia đào tạo tham gia các buổi triển lãm du lịch tại các nước trên thế giới.

 

9. ĐIỀU HÀNH VÀ KIỂM SOÁT CÁC DỊCH VỤ DU LỊCH

9.1. Bảo vệ khách hàng và những yêu cầu về cung cấp dịch vụ du lịch

Trước tháng 9/1998, Luật Doanh nghiệp đã quy định về việc cung cấp các dịch vụ du lịch. Tuân theo các quy định này, Cục Du lịch quốc gia cấp giấy phép cho các tổ chức cung cấp các dịch vụ du lịch với lượng khách du lịch đạt tới con số 360. Quy định về các hoạt động du lịch chủ yếu phụ thuộc vào ngành du lịch quốc tế do những mối quan hệ với các du khách nước ngoài. Nó cũng phụ thuộc vào việc duy trì các dịch vụ chất lượng cao và sự bảo vệ các khách hàng. Dẫn đến kết quả, sự tập trung vào các kinh nghiệm của các nước trên thế giới và sự hòa hợp của quy định này với các chỉ thị của Liên Minh châu Âu là những yếu tố góp phần xác định những yêu cầu tối thiểu và các điều kiện cần thiết cho sự bảo vệ  khách hàng. Nhằm thực thi hiệu quả Luật này, những quy định phù hợp sẽ phải được đưa ra nhằm quản lý các hoạt động cung cấp các dịch vụ du lịch và các công ty kinh doanh du lịch sẽ phải được cấp chứng chỉ đặc biệt mà đã được đăng ký với Phòng Đăng Ký Dịch vụ Du lịch. Các tiêu chuẩn và những yêu cầu do Luật quy định sẽ hình thành cơ sở về mặt pháp lý cho việc chuẩn bị các tiêu chuẩn đặc biệt về du lịch và các hệ thống phân loại được sử dụng sau đó bởi các tổ chức kinh doanh trong quá trình lập kế hoạch và tổ chức cung cấp các dịch vụ du lịch. Điểm chính của tất cả các yêu cầu là tạo các điều kiện nhằm đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và đảm bảo ngăn chặn các vụ cháy và an toàn chung, các tiêu chuẩn về vệ sinh và dịch vụ có chất lượng. Các tiêu chuẩn này sẽ tạo cơ sở pháp lý cho một khách hàng muốn đệ đơn kiện các nhà cung cấp dịch vụ, giám sát sự tuân theo các tiêu chuẩn này và phân loại các dịch vụ như một phương tiện cần thiết để cung cấp các thông tin du lịch. Luật quy định rằng các hoạt động hợp pháp khi đã được thông qua nên được đánh giá bởi cở cấu tổ chức du lịch phù hợp và nên được thực hiện.

 

10. CÁC LĨNH VỰC QUỐC TẾ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

10.1. Lithuania tham gia vào các quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch

Cục Du lịch Quốc gia là một thành viên của Ủy Ban Du lịch Biển Ban tíc (BTC) cũng như là một thành viên chính thức của Tổ chức Thương Mại Quốc tế (WTO). Kể từ năm 1993 WTO đã đưa ra những con số thống kê về ngành du lịch của Lithuania do Cục Du lịch Quốc gia cung cấp. Lithuania đã tham gia vào các hiệp định hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch với các nước như Hi Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Uzbekistan và Balan và có kế hoạch sẽ xây dựng mối quan hệ hợp tác với các nước như Nga, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Bulgaria. Trong quá trình gia nhập Liên Minh châu Âu và dựa trên các chỉ dẫn của Liên Minh châu Âu, Lithuania sẽ phải đảm bảo cung cấp miễn phí các hàng hóa, tính cạnh tranh và các dịch vụ chất lượng, thông tin chính xác và bảo vệ khách hàng trong thị trường của EU cũng như sẽ phải tạo khả năng cho du khách tự do đi thăm quan du lịch tại đất nước này. Do thiếu nguồn tài chính, hình ảnh về Lithuania trên thế giới sẽ không làm hài lòng du khách và cần được tăng cường xây dựng và cải tiến.

10.2. Các biện pháp và hành động ưu tiên

8.2.1. Các mối quan hệ quốc tế quan trọng với các nước láng giếng nên được duy trì như một thị trường tiềm năng và ưu tiên để phát triển ngành du lịch (CIS, các nước Scandinavia, Đức và Ba Lan);

8.2.2. Thành lập Trung Tâm Thông Tin Du lịch (đoàn đại biểu cấp cao trong ngành du lịch) ở các nước trên thế giới và đảm bảo các hoạt động truyền tải thông tin.

8.2.3. Gia nhập tổ chức WTO và Ủy Ban Du lịch châu Âu.

 

11. QUẢNG BÁ DU LỊCH

11.1. Thông tin và quảng cáo du lịch

Ở Lithuania, các hoạt động quảng cáo cho ngành du lịch được thực hiện đối với các sản phẩm du lịch và những nghiên cứu về thị trường thương mại cũng như cung cấp các sản phẩm du lịch và quảng bá trên thị trường trong nước và quốc tế. Hiện nay, chức năng được đề cập đến sau đang được thực hiện một cách hiệu quả. 13 trung tâm Thông Tin Du lịch có trụ sở đặt tại Lithuania cung cấp thông tin du lịch và 3 Trung tâm Thông tin Du lịch được đặt trụ sở tại nước ngoài bao gồm Trung tâm Thông tin Biển Ban Tíc tại Helsinki và Hussum (Đức) do ba quốc gia trên vùng biển Bantíc cùng góp vốn xây dựng, Trung tâm Du lịch ở New York với sự hỗ trợ của Cục Du lịch Quốc gia. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các ba trung tâm này còn thấp bởi vì chúng chưa thực sự trở thành những đại diện cho hình ảnh du lịch của đất nước Lithuania. Do vậy, Chính phủ nên thành lập và cung cấp tài chính cho các trung tâm thông tin du lịch hiện đang hoạt động tại Đức, Nga, Ba lan, Thụy Sĩ và Phần Lan. Các tạp chí thông tin quảng cáo du lịch nhằm mục đích tạo dựng hình ảnh du lịch của đất nước Lithuania đang được chuẩn bị và phân phối bởi Cục Du lịch Quốc gia. Phần lớn các tạp chí này do Quỹ IPA thuộc các công ty đầu tư trong lĩnh vực tài chính và bất động sản cung cấp kinh phí hoạt động. Các tạp chí này được phân phối cho các hội trợ triển lãm du lịch và thông qua các Đại sứ quán của Lithuania, các trung tâm thông tin, các hãng hàng không Lithuania và các tổ chức công cộng. Hiện nay, loại tạp chí này chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu do vậy cần thiết đảm bảo rằng 30-40 nghìn bản phải được sản xuất để đáp ứng nhu cầu và cũng rất quan trọng để sản xuất ra các tạp chí du lịch định kỳ. Khi không còn được sự trợ giúp về tài chính từ các nước trên thế giới, chính phủ sẽ tiếp tục các hoạt động xây dựng hình ảnh du lịch của đất nước và phân bổ các quỹ cần thiết để thực hiện điều này. Các hoạt động thông tin quảng cáo nên được duy trì tại các khu vực và thành phố như là một phương tiện hỗ trợ cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Hoạt động này là một sự đầu tư quan trọng trong sự phát triển ngành du lịch và một sự trợ giúp kinh doanh hiệu quả.

11.2. Tham gia vào các hội trợ du lịch quốc tế

Sự tham gia vào các hội trợ du lịch quốc tế là một phần quan trọng trong quá trình tạo dựng hình ảnh du lịch của đất nước và quảng bá các sản phẩm du lịch quốc gia. Cục Du lịch Quốc gia bố trí các khu vực trưng bày ở Lithuania và tổ chức cho các công ty du lịch của Lithuania tham gia vào các hội trợ du lịch nổi tiếng nhất ở London, Berlin, Milan, Gotelong, Moscow, St Petersburg và 5-7 hội trợ du lịch của khu vực. Các hoạt động này chủ yếu do các quỹ PHARE hỗ trợ kinh phí hoạt động. Trong nằm 1998, sau khi các quỹ PHARE không còn cung cấp ngân sách hoạt động, chính phủ sẽ tiếp tục duy trì công việc với các nguồn kinh phí từ các quỹ nhà nước và tư nhân đồng thời phân bổ các phương tiện phù hợp để bố trí các khu vực trưng bày quảng cáo tại các hội trợ.

11.3. Liên kết với các hoạt động của các phương tiện thông tin quốc tế

Liên kết với các hoạt động của các phương tiện thông tin quốc tế và các hãng du lịch sẽ trở thành phương tiện hữu ích lâu dài cho hoạt động quảng cáo của Cục Du lịch Quốc gia và quảng bá hình ảnh du lịch của Lithuania mà cho đến nay rất ít khi được sử dụng. Các công ty tư nhân hiện chưa có khả năng tổ chức các chiến dịch quảng cáo du lịch trên phạm vi các địa phương trong khi không có một biện pháp nào được chú trọng thực hiện bởi các tổ chức công cộng nhằm mục đích quảng bá các sản phẩm du lịch của Lithuania. Không có sự quan tâm đặc biệt nào dành cho các hoạt động của ngân sách du lịch đối với việc phát triển du lịch quốc tế và quảng bá hình ảnh du lịch của đất nước ra nước ngoài cùng với việc truyền tải thông tin (ví dụ: ngân sách mà Phần Lan dành cho các hoạt động du lịch hàng năm là 80 triệu litas, Ireland là 120 triệu litas, riêng Luthiania chỉ có 2 triệu litas). Đây là lý do tại sao Lithuana dần mất chỗ đứng trên thị trường du lịch quốc tế. Nhằm mục đích tăng khả năng phát triển du lịch của Lithuania, quảng bá hình ảnh một Cupertino với các công ty du lịch thương mại công cộng và địa phương cùng với việc phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn vốn, lựa chọn các biện pháp tối ưu và tập trung vào các ngiên cứu mục tiêu vào các thị trường nước ngoài là rất cần thiết.

11.4. Hệ thống thông tin du lịch

Ban Đăng ký các nguồn lực và Dịch vụ du lịch đưa ra các quy định của Luật Du lịch sẽ là động lực để hoạt động có hiệu quả hơn trong lĩnh vực truyền tải các thông tin du lịch. Cơ sở dữ liệu này sẽ tạo khả năng có thể cung cấp hiệu quả các thông tin có chất lượng về dịch vụ du lịch và những điều kiện thuận lợi đối với cả du khách trong nước và nước ngoài đến với Lithuania, đồng thời góp phần đánh giá chính xác hơn về các sản phẩm du lịch. Ngoài ra nên tìm ra một giải pháp nhằm trao đổi thông tin giữa các địa phương, đại diện các doanh nghiệp và người sử dụng.

11.5. Các biện pháp và hành động ưu tiên

11.5.1. Tiến hành các nghiên cứu về thị trường du lịch nước ngoài và lập danh sách các biện pháp ưu tiên;

11.5.2. Trợ giúp trong việc thành lập các trung tâm thông tin du lịch ở nước ngoài;

11.5.3. Cung cấp các cơ sở thông tin quảng cáo du lịch cho người sử dụng và các tổ chức liên quan;

11.5.4. Tổ chức các chuyến tham quan học hỏi cho đại diện của các hãng du lịch và truyền thông nước ngoài đến Lithuania;

11.5.5. Tăng cường tham gia vào các hội chợ du lịch quốc tế;

11.5.6. Phác thảo các kế hoạch, thực hiện các biện pháp quảng bá du lịch và đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động;

11.5.7. Duy trì hoạt động đăng ký các dịch vụ du lịch;

11.5.8. Tạo ảnh hưởng đối với các hoạt động tự do hóa về các phong tục của du khách nước ngoài tại Lithuania;

11.5.9. Chuẩn bị và thực hiện hệ thống xây dựng thông tin du lịch;

11.5.10. Kết hợp hài hòa giữa hoạt động chuẩn bị cho cơ sở thông tin du lịch của quốc gia với những sắc lệnh của Liên minh châu Âu và những đề nghị với Tổ chức du lịch quốc tế.

 

12. TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH DU LỊCH

12.1. Các nguồn đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ

Phần lớn các nguồn đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ du lịch từ ngành kinh tế tư nhân, sự tham gia của nhà nước là cần thiết trong việc tăng cường vốn đầu tư gián tiếp vào ngành du lịch, phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia, lập ra các kế hoạch du lịch, xây dựng hệ thống thông tin du lịch, thực hiện các hoạt động quảng bá và đào tạo du lịch. Đầu tư về cơ sở hạ tầng đối với các nhà hàng và khách sạn trong năm 1996 đạt 23 triệu litas và chỉ chiếm 0,5% tổng số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng trong nền kinh tế của Lithuania. Trong tháng 10/1997 các khoản vay đối với nhà hàng và khách sạn chỉ chiếm 1,1% trong tổng số các khoản vay dành cho ngành kinh tế. Nhìn chung lĩnh vực khách sạn và nhà hàng đã mở rộng các vốn vay với số tiền vay dài hạn lên tới 30,7 triệu litas và 10 triệu litas khoản vay ngắn hạn. Đầu năm 1997 31 tổ chức kinh doanh trong ngành khách sạn, nhà hàng hoạt động bằng vốn đầu tư của nước ngoài; tổng số vốn đầu tư của nước ngoài lên tới 33,4 triệu litas.

12.2. Xây dựng môi trường đầu tư

Vai trò quan trọng của các tổ chức công cộng là hình thành khung pháp lý có lợi cho phát triển du lịch và các hoạt động của các tổ chức kinh doanh du lịch, một yếu tố quan trọng là các dịch vụ du lịch được cung cấp cho các khách du lịch nước ngoài bởi các công ty đặt trụ sở tại Lithuania và được quy định bởi Luật Du lịch như là các dịch vụ xuất khẩu. Sự thành công của các hoạt động kinh doanh du lịch và lượng vốn đầu tư chủ yếu phụ thuộc vào các biện pháp do nhà nước đưa ra liên quan đến việc cấp hộ chiếu, nghĩa là các điều kiện liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ du lịch cho các du khách nước ngoài có tạo điều kiện thuận lợi cho họ hay không. Một yếu tố quan trọng khác là loại bỏ các giới hạn và rào cản hành chính được áp dụng cho các hoạt động loại này cũng như sự thành công trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch trên phạm vi khu vực và địa phương.

12.3. Các biện pháp và hành động ưu tiên

10.3.1. Các khu vực và địa phương sẽ thực hiện và nhận sự hỗ trợ đối với các hoạt động sau: nghiên cứu và xây dựng các chương trình phát triển khu vực; duy trì các hoạt động của các trung tâm thông tin du lịch của địa phương và khu vực, xuất bản các tạp chí du lịch; đảm bảo các điều kiện đầu tư có lợi cho dịch vụ du lịch thông qua việc xóa bỏ và hạn chế các yếu tố không cần thiết (các giới hạn và sự hình thành liên quan đến các hoạt động thiết lập, tính hợp lý và quyền thực thi pháp lý của các giấy phép và điều chỉnh đa dạng, tính hiệu quả của bộ máy hành chính) các giải pháp tích cực, tính mục đích và tinh giảm các thủ tục hành chính.

12.4. Những ưu tiên về lãnh thổ và cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho ngành du lịch

12.4.1. Cải tạo các khách sạn hiện nay và xây dựng các khách sạn mới, thành lập mạng lưới các khu giải trí, điều chỉnh các di sản văn hóa phù hợp với kết cấu tổ chức của các dịch vụ du lịch;

12.4.2. Thành lập các trung tâm thông tin du lịch tại Vilnius, Kaunas, Klaipeda thông qua phương thức hoạt động, mở rộng phạm vi của các dịch vụ cung cấp ăn ở cho du khách, tạo cơ sở hạ tầng cần thiết để tổ chức các sự kiện quốc tế, các hoạt động giải trí và thông qua phát triển tiềm năng du lịch ngoại ô;

12.4.3. Phát triển các khu du lịch biển thông qua các cơ sở cung cấp chỗ ăn ở chất lượng cao và trung bình và các địa điểm giải trí chưa được khai thác sử dụng trong các mùa du lịch và tăng cường các biện pháp thu hút du khách;

12.4.4. Phát triển công viên giải trí Aukstaitija trong phạm vi lãnh thổ của các công viên quốc gia và 5 công viên khu vực dưới hình thức nâng cấp các khu giải trí hiện nay, tạo mạng lưới giải trí, phát triển dịch vụ du lịch nông thôn, mở rộng phạm vi hoạt động của các dịch vụ giải trí;

12.4.5. Phát triển khu vực Đông Nam thông qua việc xây dựng các khu giải trí, phát triển du lịch nông thôn, các hoạt động cắm trại, phát triển du lịch sinh thái săn bắn và các khu điều dưỡng;

12.4.6. Phát triển các khu vực giải trí năng động tại khu vực Trung Nemunas thông qua các hoạt động giải trí kết hợp với săn bắn du lịch biển trên quy mô nhỏ và các dịch vụ du lịch nông thôn;

12.4.7. Mở rộng khu vực du lịch bằng xe ô tô vùng Via Baltica với các dịch vụ du lịch bằng xe ô tô phát triển mạnh;

12.4.8. Phát triển và cung cấp sự trợ giúp đối với các dịch vụ du lịch tại các khu vực đồng bằng nơi đa dạng các nguồn du lịch giải trí như một phương tiện hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh và tuyển dụng nhân công tại vùng nông thôn. Đơn giản hóa các thủ tục, định vị các khu đất mục tiêu cũng như giải quyết các vấn đề liên quan đến việc không thu thuế đất;

12.4.9. Đầu tư trực tiếp trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng du lịch sẽ trở thành một đặc quyền của các tổ chức kinh doanh du lịch. Các tổ chức này phải được trợ giúp thông qua các chương trình kinh doanh trên quy mô nhỏ và vừa, các quỹ hỗ trợ nông thôn, lâm nghiệp và xuất khẩu. Sự tham gia của nhà nước trong việc hỗ trợ kinh phí hoạt động nhằm thực hiện các hoạt động quảng bá du lịch cũng sẽ được xem như một phương tiện hỗ trợ, việc giảm thuế sẽ được thực hiện. Nhằm thúc đẩy việc thực hiện các dự án du lịch, giải trí cần thiết, Lithuania cần tới sự giúp đỡ của Liên minh châu Âu;

12.4.10. Cần thiết phải đảm bảo sự thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong hoạt động xây dựng các khu giải trí đặc biệt là các khách sạn. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ được đưa ra những lời đề nghị xác thực (các kế hoạch liên tiếp hoặc triển vọng đầu tư), xác định các yêu cầu về mặt pháp lý thông qua việc tập trung vào các nguồn đầu tư hơn là giá cả của đất đai hoặc bất động sản. Xây dựng chuỗi khách sạn quốc tế sẽ giúp giải quyết những vấn đề về chất lượng dịch vụ và đảm bảo sự phát triển của ngành du lịch quốc tế, sử dụng các nguồn nhân lực địa phương và cơ sở hạ tầng du lịch; mặt khác do các hoạt động quảng bá du lịch của các tổ chức này hình ảnh du lịch của Lithuania sẽ được thế giới biết đến.

Nguồn: tourism.lts