![]() |
|||||||||||||||||||||||||||||
|
Chiến tranh đă xóa đi rất nhiều vết tích của gốc nguồn văn hóa. Khi Hoàng thành Thăng Long hiện ra, người Việt có một khoảng lặng cần thiết để nh́n về quá khứ. Không đơn thuần chỉ là nền móng vật chất của các vương triều đă trải qua những suy biến đầy khắc nghiệt của lịch sử, mà đó là hồn thiêng, là khí phách hiên ngang mà ông cha ta đă ứng xử trong đối nội và đối ngoại... Là nơi ghi đậm dấu ấn những giá trị biểu đạt văn hoá, giá trị truyền thống và những sự kiện mang tầm vóc ư nghĩa toàn cầu. Vua Trần Nhân Tông từng nói: "Nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân" (Mỗi lần chạm đến lại thành mới tinh). Việt Nam đang nhắc đến 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội như một niềm tự hào lớn khi ở đó năng lực tinh thần là chủ điểm của mọi hội tụ sáng tạo. Việt Nam đang ư thức về tất cả những ǵ c̣n lại trong gia tài của kinh đô 1.000 năm. Với biết bao thăng trầm, bụi phủ, có lúc tưởng chừng như văn hiến Thăng Long đă nguội lạnh và chỉ c̣n là một nỗi niềm hoài cổ. Hoàng thành Thăng Long phát lộ, nghiệp đế vương của một nước độc lập, tự chủ từ 1.000 năm trước hiện về nguyên vẹn giá trị. Khát vọng lịch sử về một cơi đất có thế rồng cuộn hổ ngồi đă thổi một luồng sinh khí mới mẻ vào hiện tại. Một ngh́n năm là dấu ấn của những trang sử đầy đau thương và hào hùng. Bóng tối của lịch sử khép lại, 1.000 năm Bắc thuộc, 100 năm Pháp thuộc đă không thể đồng hóa được dân tộc Việt Nam.
Di tích Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội được t́m thấy năm 2003, là một trong những phát hiện lịch sử lớn. Các hố khai quật tại đây đă làm hé lộ nhiều vết tích nền móng kiến trúc, vật liệu kiến trúc và một khối lượng di vật khá đồ sộ giúp thế hệ sau tiếp cận được với diễn biến văn hóa nối tiếp nhau liên tục bắt đầu từ thời ḱ Đại La (thế kỉ VII-IX) đến thời Đinh - Tiền Lê (X), thành Thăng Long thời Lư - Trần - Lê Sơ (XI-XVI) và thời Nguyễn (XIX). Điều hiếm có và đặc sắc ở đây là thông qua hiện vật và các tầng văn hóa, chúng ta có thể lật lại từng trang sống động của pho sử vàng Thăng Long - Hà Nội.
Những nền móng di tích kiến trúc này là cơ sở khoa học để khẳng định nơi đây chính là trung tâm Cấm thành Thăng Long xưa. Đáng chú ư nhất là kiến trúc "lầu lục giác" được các chuyên gia Việt Nam suy đoán là các "Trà đ́nh" (nơi thưởng trà của vua chúa xưa kia) c̣n các chuyên gia Nhật Bản lại cho đây là các tháp nhiều tầng mái. Qua nghiên cứu, chỉnh lí các di vật đồ gốm sứ, đồ sành và vật liệu kiến trúc có thể khẳng định phần lớn đều là đồ "ngự dùng" (đồ dùng riêng của Hoàng cung) với hoa văn h́nh rồng năm ngón đặc sắc. Trên cơ sở giám định niên đại của 5.000 hiện vật, hoàn thành đo vẽ kĩ thuật và hoàn chỉnh hồ sơ 2.918 bản vẽ... đă đưa ra những bằng chứng cho thấy trong nhiều thời ḱ, kinh thành Thăng Long luôn có mối quan hệ, giao lưu kinh tế với bên ngoài như: Trung Quốc, Tây Á (giai đoạn thế kỉ VII-IX); Trung Quốc, Nhật Bản (giai đoạn thời Lê Trung Hưng). Các di vật này cũng cho thấy cung điện thời Lư - Trần được trang trí rất cầu ḱ, đẹp mắt và mang sắc thái văn hóa dân tộc độc đáo, thể hiện tŕnh độ kĩ thuật cao nhờ bàn tay tài hoa của người thợ thời đó. Những kết quả khảo cổ là một chứng cứ khoa học đă khoả lấp khoảng trống vắng trong kho tàng khảo cổ của vùng đất Thượng đô - Kinh sư Hà Nội trước đó có rất ít ỏi các dấu tích về thời Lê, c̣n dấu tích về thời Lư - Trần th́ hoàn toàn vắng bóng. Đây c̣n là nơi giao thoa các giá trị nhân văn của nhiều nền văn hoa, nghệ thuật, kiến trúc, quy hoạch đô thị, là nơi hội tụ các nền văn minh lớn của châu Á. Trung tâm Hoàng thành Thăng Long đạt được 3 tiêu chí của Công ước di sản thế giới. Một là, di sản có khả năng biểu đạt sự giao thoa lớn giữa các giá trị nhân văn trong một giai đoạn lịch sử hoặc trong một vùng văn hóa của thế giới, biểu đạt sự phát triển của kiến trúc, công tŕnh nghệ thuật ḱ vĩ; Hai là, di sản có ư nghĩa như một minh chứng duy nhất hoặc ít nhất cũng là đặc thù của một truyền thống văn hóa; Ba là, di sản có mối liên hệ trực tiếp với những sự kiện hay truyền thống c̣n hiện hữu trong cuộc sống hiện tại, với các tác phẩm nghệ thuật và văn học có giá trị nổi bật toàn cầu. Đây là di tích có giá trị nổi bật toàn cầu. Là một trung tâm quyền lực trong hơn một ngàn năm, Thăng Long – Hà Nội đồng thời là nhân chứng cho những chuyển biến của một nền văn minh lớn tại Đông Nam Á. Rất hiếm có một khu di sản nào lại có thể làm minh chứng cho một quá tŕnh vận động lịch sử lâu dài và liên tục đến như vậy. Các họa tiết kiến trúc, như các loại ngói lợp và trang trí mái phản ánh các xu hướng trong lịch sử thế giới, ví dụ như sự truyền bá và ảnh hưởng của phật giáo đối với sự phát triển khái niệm vương quyền ở vùng Đông Nam Á. Nho giáo cũng đóng góp vai tṛ vô cùng quan trọng đối với sự h́nh thành nhà nước của người Việt Nam. Trên các nguyên tắc của Nho giáo, nhà nước quân chủ Đại Việt được củng cố mọi mặt, từ việc h́nh thành một hệ thống pháp luật và h́nh thành trật tự xă hội. Vai tṛ to lớn của Nho giáo được thể hiện từ h́nh thái chung của quy hoạch Hoàng thành cho đến công tŕnh kến trúc và hiện vật c̣n lại. Từ h́nh thái chung đó của Hoàng thành cùng với vô số các hiện vật mang tính rồng hoặc các dấu ấn riêng của Hoàng gia thể hiện rất rơ tính đẳng cấp của một nhà nước lấy Nho giáo làm nền tảng.
Những trào lưu của thế giới, ví dụ như công cuộc xâm chiếm thuộc địa của phương Tây hay sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân thời kỳ sau chiế tranh thế giới thứ hai cũng được thể hiện tại khu Hoàng Thành, cụ thể là sự hiện diện của một số toà nhà Pháp cuối thế kỷ XX c̣n tồn tại trong khu vực trung tâm của Cấm thành cũ. Lịch sử phát triển không ngừng của Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội tạo cùng một không gian địa lư và trong hơn một thiên niên kỷ đă khiến cho nơi đây trở thành một điển h́nh cho sự và h́nh thành và tiến hoá của trung tâm đô thị kiểu quân chủ chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo, tư tưởng chính trị từ nhiều nền văn hoá khác nhau trên thế giới. Một ngàn năm người Trung Hoa đô hộ Bắc Bộ để Lại những dấu ấn văn hoá không thể phủ nhận, nhưng không làm mờ đi những giá trị truyền thống của nền văn hoá bản địa. Tuy vị trí của Kinh thành nằm cách xa biển song lại gần với sông Hồng rộng lớn nên rất thuận lợi cho việc giao lưu với các nền văn hoá khác bằng đường thuỷ, kể cả những nền văn hoá xa xôi như Nhật Bản, Tây Á. Các tuyến đường thương mại qua Ấn Độ Dương nối kết với Thăng Long - Hà Nội với vùng Cận Đông xa xôi. Và mặc dù có mỗi quan hệ mật thiết với Trung Quốc về mặt lịch sử văn hoá nhưng xă hội Việt Nam trước hết vẫn là một nền văn minh Đông Nam Á đặc trưng. Trong suốt hơn 1000 năm, Thăng Long – Hà Nội là nơi hội tụ và lắng đọng những giá trị tinh túy nhất của các nền văn minh lớn của châu Á. Giá trị đó đă diễn ra liên tục trong một thời gian dài. Nhờ đó Khu Di sản này cho ta những cơ hội chưa tầng có để nghiên cứu về sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, quy hoạch đô thị và cách thức biểu đạt văn hoá nghệ thuật tại nơi giao thoa của các nền văn hoá Đông Á và Đông Nam Á. Lịch sử không đứt đoạn của khu Hoàng thành c̣n có giá trị nổi bật trong việc nghiên cứu quá tŕnh phát triển của một nền văn minh châu Á về mặt văn hoá và vị trí của nó trong lịch sử chung của thế giới. V́ vậy, toàn bộ Khu Di sản được đề cử xem là một chứng tích hết sức độc đáo, có giá trị nổi bật toàn cầu về các mặt văn hoá, xă hội, chính trị, tôn giáo, tư tưởng và phát triển kinh tế trong lịch sử Việt Nam.
Khu vực di tích được đề nghị UNESCO xem xét công nhận là di sản Thế giới bao gồm Khu đi tích Thành Cổ Hà Nội và khu vực 18 Hoàng Diệu. Đó là khu vực trung tâm của Hoàng thành Thăng Long thời Lư (l009-1225), thời Trần (l226-1400), thời Lê Sơ (1428-1527), thời Mạc (l527- 1572), thời Lê Trung Hưng (l593-1789) và thành Hà Nội (Bắc thành) thời Nguyễn (thế kỷ 19). Đây cũng là khu vực trung tâm của thành Đại La (thế kỷ 7-9), thành Đại La thời Đinh Lê (thế kỷ 10). Khu di tích có một hệ thống di tích dày đặc và liên tiếp kéo dài trong suốt 13 thế kỷ với nhiều loại h́nh di tích phong phú, đa dạng. Ở khu vực 18 Hoàng Điệu đă được khảo cổ học khai quật trên 19.000 m2. Trong khu vực khai quật đă t́m thấy tầng văn hoá dày từ 3,50m đến trên 4m. Trong các tầng văn hoá đă t́m thấy dấu tích các nền móng các kiến trúc của nhiều triều đại chồng xếp lên nhau, đan xen lẫn nhau và cắt phá lẫn nhau cùng hàng triệu di vật khảo cổ học. Ở lớp văn hoá sâu nhất là dấu tích móng trụ, cống nước, giếng nước của thời Đại La (thế kỷ 7-9). Bên trên lớp văn hoá Đại La, ở nhiều vị trí đă t́m thấy các dấu tích văn hoá thời Đinh Lê (thế kỷ 10). Hệ thống di tích thời Lư (thế kỷ l l -12) dày đặc chồng lên trên các di tích Đại La và Đinh Lê, loại h́nh phong phú như kiến trúc 13 gian, kiến trúc 11 gian, kiến trúc 9 gian kiến trúc kiểu “lục giác” kiến trúc kiểu “bát giác'', kiến trúc có 6 móng trụ h́nh chữ nhật. Kiến trúc thời Trần kế thừa và tiếp thu xuất sắc kiến trúc thời Lư và sáng tạo thêm đường hoa chanh độc đáo. Kiến trúc thời Lê vẫn tiếp tục truyền thống Lư- Trần nhưng có sự thay đổi to lớn về vật liệu xây dựng với các móng trụ kiên cố bằng gạch vồ.
Hiện nay di tích nền điện Kính Thiên, di tích Đoan Môn của thời Lê sơ (cửa Nam của Cấm Thành) vẫn hiện diện trên mặt đất minh chứng cho trực trung tâm của Hoàng Thành Thăng Long. Tất cả phản ánh kiến trúc trong Hoàng Cung qua các thời Lư- Trần- Lê đều là bộ khung nhà bằng gỗ có mái lợp ngói, phản ánh tŕnh độ cao của các vương triều trong việc xây dựng Hoàng Cung. Các số liệu nghiên cứu về kích thước phản ánh các vương triều Việt Nam xây dựng kinh đô có quy hoạch, tính toán rất cụ thể. Các công tŕnh kiến trúc đều có quy mô hoành tráng, kỹ thuật móng trụ chống lún là một sáng tạo độc đáo được vận dụng triệt để trong điều kiện xây dựng ở trung tâm đồng bằng Châu thổ Bắc Bộ. Các kiến trúc đều được trang trí các h́nh rồng, phượng tử, uyên ương, hoa sen, hoa cúc hoa mẫu đơn với vô số các đồ án khác nhau. Những giá trị nổi bật toàn cầu Hoàng thành Thăng Long Hà Nội mang trong ḿnh những giá trị nổi bật toàn cầu bởi nơi đây, liên tục trong hơn một thiên niên kỷ là nơi giao thoa các giá trị nhân văn của nền nghệ thuật kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, quy hoạch đô thị, các công tŕnh nghệ thuật điêu khắc hoành tráng và nghệ thuật tạo dựng cảnh quan. Đây là trung tâm quyền lực của đất nước Việt Nam trong hơn một ngàn năm lịch sử và là một minh chứng có một không hai về sự tiến hoá của nền văn minh dân tộc Việt Nam trong lịch sử phát triển của nhà nước quân chủ vùng Đông Nam Á và Đông Á. Từng công tŕnh kiến trúc với các đặc điểm kỹ thuật, từng đường nét hoa văn trang trí, từng di vật một mặt phô bày những giao thoa văn hoá khu vực, mặt khác nổi bật trên hết vẫn là khác biệt không trộn lẫn vào bất cứ một nền văn hoá nào khác. Tất cả đều toát nên một nội lực tiềm ẩn và mạnh mẽ, một nội lực mà nhờ đó dưới ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá bản sắc Việt Nam được duy tŕ và phát triển. Trên cái nền nội lực mạnh mẽ và giàu bản sắc đó, bấy nhiêu nguồn ảnh hưởng văn hoá, cộng thêm nguồn ảnh hưởng từ Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo của văn hoá phương Đông, ảnh hưởng văn hoá phương Tây, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa xă hội, tất cả đều để lại dấu ấn trên nghệ thuật kiến trúc cảnh quan và khả năng biểu đạt văn hoá của Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội. Khu Di sản được đề cử có thể được coi là một h́nh mẫu về quá tŕnh tiến hoá không hề đứt đoạn của nghệ thuật kiến trúc, quy hoạch đô thị, một bảo tàng sống về cách thức mà các tầng lớp văn hoá nối tiếp nhau tác động lên kiểu dáng kiến trúc của một Kinh đô. Những phát hiện khảo cổ học dưới ḷng đất trong Khu Di sản cho chúng ta một cái nh́n xuyên thấu thời gian để thấy sự phát triển của kỹ thuật xây dựng qua các thời kỳ, nhưng kỹ thuật làm nền móng theo cách của người Việt Nam trong điều kiện nền đất yếu trong vùng “trũng sông Hồng", các qui hoạch đô thị khoa học trong không gian môi trường địa lư có nhiều thế hệ thống ao hồ và sông ng̣i. Các hiện vật gốm sứ tinh xảo cùng nhiều loại h́nh di vật đặc sắc dùng để lợp và trang trí trên mái các công tŕnh kiến trúc cung điện xưa được t́m thấy loại khu di tích cho ta những ấn tượng sâu sắc về tŕnh độ công nghệ và sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật tạo h́nh, cách biểu đạt văn hoá mang đậm tính triết lư phương Đông trong nhiều thế kỷ. Hoàng thành Thăng Long từ thế kỷ X đến thế kỷ XV Mùa thu năm 1010, sau khi công bố Thiên đô chiếu tại kinh đô Hoa Lư và rời đô về Thăng Long, Lư Thái Tổ cùng các quần thần đă gấp rút xây dựng những công tŕnh cơ bản của Kinh thành Thăng Long. Đến đầu năm 1011 th́ hoàn thành. Khi mới xây dựng, Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo mô h́nh Tam trùng thành quách gồm: ṿng ngoài cùng gọi là La thành hay kinh thành, ṿng thành thứ hai là Hoàng Thành, giữa hai lớp thành này là nơi sinh sống của cư dân, lớp thành c̣n lại là Tử cấm thành hay Cấm thành hay Long Phượng thành là nơi ở của nhà vua. Các thời sau đều theo cách ấy mà phân chia.
Ngay từ năm 1010, khi mới định đô Thăng Long, Lư Thái Tổ đă khởi công xây dựng Hoàng Thành và hàng loạt cung điện ở trong Hoàng Thành. Hoàng thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, mở 4 cửa: Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây, Đại Hưng ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc. Tuy c̣n những ư kiến khác nhau, nhưng căn cứ vào sử liệu và di tích c̣n lại, có thể xác định cửa Tường Phù mở ra phía Chợ Đông và khu phố buôn bán tấp nập của phường Giang Khẩu và đền Bạch Mă. Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà). Cửa Đại Hưng ở khoảng gần Cửa Nam hiện nay. Cửa Diệu Đức nh́n ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đ́nh Phùng hiện nay. Những cung điện chính c̣n thấy trong sử sách như: điện Càn Nguyên là nơi thiết triều đặt trên núi Nùng tức núi Long Đỗ, hai bên tả hữu là điện Tập Hiền và điện Giảng Vơ. Bên trái mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân, bên phải mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, chính Bắc dựng điện Cao Minh. Thềm các quan chầu vua gọi là Long Tŕ có hành lang chạy xung quanh. Đằng sau điện Càn Nguyên là điện Long An và điện Long Thụy làm nơi nhà vua nghỉ ngơi. Bên trái xây điện Nhật Quang, bên phải xây điện Nguyệt Minh, đằng sau là cung Thúy Hoa là nơi ở của các phi tần. Năm 1029, Lư Thái Tông xây dựng lại toàn bộ khu cấm thành sau khi nơi đây bị tàn phá bởi vụ Loạn tam vương. Trên nền cũ điện Càn Nguyên, Lư Thái Tông cho dựng điện Thiên An làm nơi thiết triều. Hai bên tả hữu là điện Tuyên Đức và điện Thiên Phúc. Phía trước điện Diên An là sân Rồng có đặt một quả chuông lớn. Hai bên tả hữu sân rồng có đặt gác chuông. Phía đông, tây sân Rồng là điện Văn Minh và điện Quảng Vũ, phía trước sân rồng là là điện Phụng Tiên, trên Điện có lầu Chính Dương là nơi báo canh báo khắc. Sau điện Diên An là điện Thiên Khánh h́nh Bát Giác. Sau điện Thiên Khánh là điện Trường Xuân. Trên điện Trường Xuân có gác Đồ Long. Từ điện Thiên Khánh nối với điện Thiên An ở phía sau đều có bắc cầu gọi là cầu Phượng Hoàng. Năm 1203, vua Lư Cao Tông bắt đầu một đợt xây dựng mới. Cung điện mới được xây ở phía tây tẩm điện. Bên trái dựng điện Dương Minh, bên phải dựng điện Chính Nghi, ở trên xây điện Kính Thiên, thềm gọi là Lệ Giao. ở giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm, bên phải mở cửa Việt Thành, thềm gọi là Ngân Hồng. Đằng sau xây điện Thắng Thọ. Bên trái xây gác Nhật Kim, bên phải xây gác Nguyệt Bảo, xung quanh dựng hành lang thềm gọi là Kim Tinh. Bên trái gác Nguyệt Bảo là ṭa Lương Thạch, phía tây xây gác Dục Đường (nhà tắm). Phía sau xây gác Phú Quốc, thềm gọi là Phượng Tiêu. Phía sau dựng cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư trên ao xây đ́nh Ngoạn Y. Ba mặt đ́nh có trồng hoa thơm cỏ lạ nước thông với sông. Ngoài ra các cung điện khác cũng được xây dựng liên tục, không đ̣i nào không có không mấy năm không có. Mỗi cung điện thường đều có tường bao xung quanh và làm cửa thông với cung điện khác. Ngoài cung điện, các vị vua nhà Lư c̣n cho xây dựng nhiều công tŕnh văn hóa tín ngưỡng khác để phục vụ cho vua và hoàng tộc như: đền Quán Thánh, chùa Chân Giáo (nơi vua Lư Huệ Tông đă tu hành), đài Chúng Tiên dựng năm 1161 tầng trên lợp ngói bạc, hồ ao làm cảnh cũng được lập khá nhiều trong Hoàng thành. Năm 1049, đào hồ Kim Minh Vạn Tuế, đắp núi đá cao ba ngọn trên mặt hồ và xây cầu Vũ Phượng đi vào, 10 năm sau lại xây thêm điện Hồ Thiên bát giác ở đấy. Năm 1051 đào hồ Thụy Thanh, hồ Ứng Minh. Năm 1098, đào hồ Phượng Liên và xây tại đây điện Sùng Uyên, bên trái lập điện Huy Dương, đ́nh Lai Phượng bên phải dựng điện Ánh Thiềm, đ́nh Át Vân, phía trước xây lầu Trường Minh, phía sau bắc cầu Ngoạn Hoa. Nhiều vườn ngự cũng được dựng nên trong Hoàng thành. Mùa thu năm 1048, mở luôn 3 vườn ngự: vườn Quỳnh Lâm, vườn Thắng Cảnh và vườn Xuân Quang. Năm 1065, mở thêm vườn Thượng Lâm. Giữa thế Kỷ 14 lại dựng một vườn ngự nữa nối liền với hậu cung. Theo sử cũ c̣n ghi giữa vườn có đào một cái hồ lớn: "Trong hồ chất đá làm núi, trên bờ hồ trồng thông, trúc và nhiều thứ kỳ hoa diệu thảo khác thêm vào đấy là chim quư thú lạ. Bốn mặt khai cho sông nước thông vào, gọi hồ ấy là Lạc Thanh Tŕ. Về phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng một ṭa điện gọi là điện Lạc Thanh. Lại đào các hồ nhỏ khác, bắt người ở Hải Đông chở nước măn chứa vào hồ ấy, để nuôi các loài hải sản như đồi mồi cá biển và các loại ba ba. Rồi bắt người Hóa Châu bắt cá sấu thả vào đấy. Lại có hồ Thanh Ngư dể nuôi cá Thanh Phụ (cá diếc đuôi đỏ vảy biếc)... Lại làm dăy hành lang ở tây điện thẳng đến cửa Hoàng Phúc, dựng dăy Trường Lang từ gác Nguyên Huyền đến cửa Đại Triều phía tây. Hoàng thành Thăng Long từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII Sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi vẫn đóng đô ở Thăng Long nhưng đổi tên là Đông Đô rồi Đông Kinh (1430). Về cơ bản Đông Đô thời Lê không khác nhiều Thăng Long đời Lư Trần Hồ chỉ có điều cung điện đền đài đă bị phá phách hết cả nhà Lê mới dần dần sửa chữa xây dựng thêm. Từ năm 1490 cho đến thế kỷ 16 kinh thành mới có nhiều thay đổi. Trong thời gian này tường hoàng thành cũng như Đại La thành luôn được xây đắp mở rộng thêm ra. Năm 1490, để đề pḥng những nạn loạn đảng như Nghi Dân đang đêm trèo tường vào giết Lê Nhân Tôn ở trong cung, Lê Thánh Tôn cho xây lại Hoàng Thành mở rộng thêm 8 dặm nữa. Công việc xây dựng trong 8 tháng mới xong. Trong Hoàng Thành Lê Thánh Tôn cũng cho xây thêm cung điện và lập vườn Thượng lâm để nuôi bách thú. Năm 1512, Lê Tương Dực giao Vũ Như Tô đứng ra trông nom việc dựng hơn 100 nóc cung điện nguy nga, lại khởi công làm Cửu Trùng Đài mà như sử cũ miêu tả là tuy chưa hoàn thành mà bóng rợp nửa hồ Tây. Năm 1514, Lê Tương Dực mở rộng Hoàng Thành thêm mấy ngh́n trượng (mỗi trượng là 3m60)bao bọc cả điện Tường Quang, Quán Trấn Vũ và chùa Kim Cổ Thiên Hoa. Từ năm 1516 đén năm 1527 là năm nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê kinh thành Thăng Long ch́m trong loạn lạc. Hầu hết các cung điện kho tàng đền chùa cũng như phường phố bị thiêu đốt tàn phá nhiều lần. Trong nửa cuối thế kỷ 16, cục diện Nam Bắc triều với một bên là nhà Mạc và một bên là Lê-Trịnh diễn ra quyết liệt với ưu thế ngày càng thuộc về phe Nam triều. Họ Trịnh lần lượt chiếm được nhiều tỉnh phía bắc như Ninh B́nh, Hà Nam, Bắc Ninh... và đánh đến tận Thăng Long. Nhà Mạc phải rời bỏ kinh thành chạy lánh nạn nơi này nơi khác. Thăng Long ngày một điêu tàn. Đến năm 1585, không chịu nổi kiếp sống lưu vong trường kỳ như vậy, Mạc Mậu Hợp quyết định trở lại Thăng Long. Một đợt xây dựng đại quy mô được khởi động. Từ đó về sau cũng không có lần nào Hoàng Thành được xây dựng quy mô như thế nữa. Năm 1599 Trịnh Tùng đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng tiến về tiếp quản Thăng Long. Hoàng Thành được tu sửa trong một tháng để đón vua Lê ra. Rồi từ ấy trở đi những cung điện mới xây ở đều nằm trong phủ Chúa. Hoàng Thành bị bỏ hoang phế nhiều.
Di tích Hoàng thành Thăng Long nằm trong một quần thể, một hệ thống di tích lịch sử văn hóa của vùng đất Thăng Long – Hà Nội. Do vậy, bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích quan trọng này không thể tách rời việc bảo vệ quần thể - hệ thống di tích của Thăng Long – Hà Nội. Do đó: - Quần thể - hệ thống di tích di tích lịch sử - văn hóa này cần được khảo sát, điều tra tổng thể, lập bản đồ và lập hồ sơ lưu trữ bằng những phương tiện kỹ thuật hiện đại và có sự phối hợp của những ngành liên quan với khảo cổ học. Toàn bộ “ngân hàng dữ liệu” này được sử dụng trong nghiên cứu quy hoạch kiến trúc đô thị. Các nhà kiến trúc phối hợp với các nhà khảo cổ, nhà xây dựng “đàm phán” nhằm giảm thiểu tối đa sự thiết hại đối với các di tích, kể cả việc có thể thống nhất quan điểm giữ lại bảo tồn hay là phá hủy (khai quật) di tích. - Đối với các di tích đă bị hủy hoại hay hư hỏng cần khai quật “chữa cháy”, hay nằm trong quy hoạch xây dựng cần khai quật “giải tỏa”, tại địa điểm đó, dù xây dựng công tŕnh nào cũng cần có một sự chỉ dẫn về di tích đă từng tồn tại ở nơi này: một tấm biển nhỏ ghi rơ nơi đây có di tích ǵ, niên đại nào, khai quật năm nào, hiện vật đang được lưu giữ tại đâu… Tất cả thông tin về các di tích không c̣n hiện diện này cũng phải được thể hiện đầy đủ trên bản đồ Du lịch của thành phố. - Trưng bày các di vật của di tích Hoàng Thành Thăng Long trong Bảo tàng Thăng Long – Hà Nội: Trong các cuộc trưng bày bảo tàng vấn đề thẩm mỹ luôn được đặt lên hàng đầu. Điều này dễ làm cho các hiện vật tách khỏi di tích khảo cổ – nguồn gốc xuất xứ của hiện vật, khiến cho người xem không thể nhận biết hết những giá trị nhiều mặt của hiện vật. Mặt khác nó c̣n làm cho người xem không chú ư đến di tích: môi trường lịch sứ - văn hóa của hiện vật. Ngay một số bảo tàng Việt Nam hiện nay cũng luôn có xu hướng chú ư đến giá trị “kinh tế” của hiện vật mà không chú ư đầy đủ đến di tích, dẫn đến sự ứng xử “bên trọng bên khinh” giữa hiện vật và di tích. Các hiện vật của di tích Hoàng thành Thăng Long khi trưng bày trong bảo tàng nên tránh những xu hướng đó. Đầu tiên cần có nhận thức: v́ không/ chưa thể bảo tồn hiện vật ngay tại di tích, biến toàn bộ di tích thành “bảo tàng ngoài trới” nên chúng ta cần bảo tồn và trưng bày trong bảo tàng, để phát huy giá trị của hiện vật thông quan việc nhanh chóng phục vụ công chúng. Công chúng không thể có nhận thức đầy đủ về hiện vật nếu như không được biết thông tin về di tích và cuộc khai quật đặc biệt này. Các thông tin này là những tài liệu khoa học không thể thiếu được khi thông tin về hiện vật. Cũng như vậy với những hiện vật từ các di tích khảo cổ khác như Đàn Nam Giao, Xă Đàn…Những sưu tập hiện vật về Thăng Long trưng bày trong bảo tàng cũng cần có những sưu tập di vật về cảnh quan môi trường, địa lư cổ, di cốt động vật, dấu tích thực vật… phát hiện trong các di tích khảo cổ, cũng như qua kết quả nghiên cứu của các nhà sinh học. - Thành lập Bảo tàng di tích Khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long tại số 18 Hoàng Diệu, từ một phần di tích đang được bảo tồn hiện nay. Phương án phủ kính trên hố khai quật và che mái cho di tích hiện nay vẫn là phương án tối ưu. Trong tương lai (hy vọng là tương lại gần) những hố khai quật khác cũng sẽ được bảo tồn như vậy, kết hợp phục dựng cảnh quan bên trên mỗi hố khai quật (tức mỗi phần trưng bày) sao cho khách tham quan có cảm giác ḿnh đang được đi ngược thời gian trở về với kinh thành Thăng Long từng thời kỳ Lư - Trần – Lê. Để làm được như vậy việc nghiên cứu chọn lựa mô h́nh cảnh quan cần phục dựng là rất quan trọng, đó là mô h́nh điển h́nh cho mỗi giai đoạn, đồng thời cũng cho thấy sự phát triển liên tục và có tính truyền thống của kinh thành Thăng Long qua xây dựng và kiến trúc. - Phát huy giá trị của Khu Di tích này không thể tách khỏi sự phối hợp với hoạt động của ngành Giáo dục và Du lịch. Đây là hai nguồn khách chủ yếu của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa ở bất cứ di tích nào. Bảo tàng di tích KCH Hoàng thành Thăng Long được coi như một Dự án điển h́nh cho Khảo cổ học đô thị. Bảo tồn và “khai thác” di tích chính là sự kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa và du lịch – hiện nay đă chung một cơ quan quản lư. Hiện nay ngành du lịch có đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế, là ngành “công nghiệp không khói” của nước ta, và như nước ngoài vẫn quan niệm: du lịch là “công nghệ di sản” (heritage industry). Trong những sản phẩm du lịch th́ di tích lịch sử văn hóa là sản phẩm có sức hấp dẫn lớn đối với du khách. Đă có hiện tượng nhiều di tích đang bị biến thành một phần của công nghệ giải trí (entertainment industry) hay bị thương mại hóa. Khu dí tích Hoàng Thành Thăng Long với vị trí đặc biệt của nó chắn chắn sẽ tránh được những hoạt động kiểu như vậy. Tuy nhiên để sự cảm nhận và thưởng thức của du khách được trọn vẹn th́ việc bảo tồn và phục dựng khu di tích bằng những kỹ thuật và nguyên vật liệu mới là khó tránh khỏi, kể cả việc di tích không giữ được sự toàn vẹn trung thực của nó. V́ vậy các phương án phục dựng tôn tạo cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Mục đích nhằm phát huy tác dụng của di tích nhưng nếu không cẩn thận, chính sức ép về việc tăng số lượng di khách đến đây cũng là một trở ngại cho việc bảo tồn di tích một cách khoa học. Mặt khác, nếu lượng khách tham quan nhiều đến mức không kiểm soát được th́ đó cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu đến sự an toàn và bền vững của di tích. Cuối tháng 1/2010, tại Khu di tích Thành cổ Hà Nội, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) và UBND TP. Hà Nội đă chính thức công bố Dự án “Bảo tồn Khu di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội”. Dự án có tổng giá trị 1,124 triệu USD, do Quỹ Tín thác Nhật Bản tài trợ thông qua nguồn ODA, viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản uỷ thác qua UNESCO, bao gồm các nội dung: Hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đánh giá giá trị của khu di tích 18 Hoàng Diệu và nghiên cứu kinh tế - xă hội khác; đề xuất các biện pháp bảo tồn, bảo vệ các di vật khảo cổ đă xuất lộ, khảo sát đất đai, khí hậu… Theo lộ tŕnh, từ 1/3 - 5/2010, ICOMOS sẽ tiến hành thẩm định hồ sơ và khảo sát thực địa. Đến tháng 7/2010, tại Brazil, Ủy ban Di sản Thế giới sẽ họp chính thức đánh giá về hồ sơ và đưa ra quyết định cuối cùng có hay không công nhận Khu trung tâm HTTL - Hà Nội là Di sản Văn hóa Thế giới. Đây là một bước tiến quan trọng trong quá tŕnh bảo vệ bảo tồn khu di tích này và mở đầu cho một giai đoạn mới của việc trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa đặc biệt quan trọng của Việt Nam. Khu Di sản được đề cử có thể được coi là một h́nh mẫu về quá tŕnh tiến hoá không hề đứt đoạn của nghệ thuật kiến trúc, quy hoạch đô thị, một bảo tàng sống về cách thức mà các tầng lớp văn hoá nối tiếp nhau tác động lên kiểu dáng kiến trúc của một Kinh đô. Những phát hiện khảo cổ học dưới ḷng đất trong Khu Di sản cho chúng ta một cái nh́n xuyên thấu thời gian để thấy sự phát triển của kỹ thuật xây dựng qua các thời kỳ, nhưng kỹ thuật làm nền móng theo cách của người Việt Nam trong điều kiện nền đất yếu trong vùng “trũng sông Hồng", các qui hoạch đô thị khoa học trong không gian môi trường địa lư có nhiều thế hệ thống ao hồ và sông ng̣i. Cinet tổng hợp |
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||