Nằm ở cửa ngơ vùng Tây Bắc của Tổ quốc, Hoà B́nh là một tỉnh miền núi có nền "Văn hoá Hoà B́nh" nổi tiếng - cái nôi văn hoá của người Việt cổ, là vùng sử thi huyền thoại “Đẻ đất đẻ nước”, là miền đất âm vang tiếng cồng, tiếng chiêng, vùng của những lễ hội giầu bản sắc dân tộc Tây Bắc, của kho tàng phong phú về văn nghệ dân gian các dân tộc: Mường, Dao Thái, Mông...  Là quê hương của những làn điệu dân ca "ngọt như mật ong, trong như ḍng suối"; những trường ca, truyện thơ đậm nét văn hóa dân tộc và chất nhân văn tinh tế…  Mời bạn đến với mảnh đất Hoà B́nh để cùng khám phá và cảm nhận vẻ đẹp của một miền văn hoá giàu bản sắc.

Hoà B́nh - Dấu ấn một nền văn hoá

Hoà B́nh là một trong những vùng đất mà các nhà khảo cổ học chứng minh đă có người Việt cổ sinh sống cách đây hàng vạn năm. Nơi đây c̣n đọng lại nhiều dấu ấn của một nền văn hóa Ḥa B́nh rực rỡ qua việc t́m thấy 47 chiếc trống đồng cổ trong đó có trống đồng sông Đà và Miếu Môn thuộc loại đẹp và cổ cùng một hệ thống các di tích xác định nền văn hoá Hoà b́nh đó là:  

Hang Muối - nơi cư trú của người nguyên thuỷ trong thời gian dài. Tại đây đă xác định nhiều công cụ đá, di tích bếp, xương của người nguyên thuỷ.

Là Hang Khoài - Niên đại kỹ nghệ cuội Việt nam. Nơi cư trú của người nguyên thuỷ cách đây 17.000 đến 11.000 năm.

Là Khu mộ cổ Đống thếch: Có hàng trăm ngôi mộ xung quanh được được chôn nhiều ḥn mồ, có ḥn cao tới hơn 3 m, trên khắc chữ Hán ghi tên người đă chết. Người Mường quan niệm rằng người chết vẫn có linh hồn và linh hồn thường được trú ngụ và gửi gắm vào đá. Do đó các cột đá (ḥn mồ) dựng lên không chỉ có ư nghĩa đơn thuần là đánh dấu mộ. Hiện tượng này không chỉ có ở vùng Mường mà c̣n khá phổ biến ở một số dân tộc Đông Nam á.

Khu mộ cổ Đống thếch

Là Hang chùa: C̣n gọi là "Văn Quang Động", đó là 3 chữ đại tự khắc trên vách đá, dưới có khắc nhiều bài thơ, bài văn ở thế kỷ 18 – 19…

Đặc biệt, phát hiện mới nhất về lối ṃn cổ cách đây 22 ngh́n năm tại hang xóm Trại xă Tân Lập (thuộc Mường Vang, Lạc Sơn) đă khẳng định chắc chắn về điều đó.

Hang xóm Trại là một hang tiêu biểu của văn hoá Hoà B́nh trên thế giới. Nền văn hoá mà thế giới biết đến và công nhận. Từ năm 1932 tại Hội nghị các nhà tiền sử châu Á Thái B́nh Dương, Tiến sỹ khảo cổ học người Pháp, bà Mađơlin Colani đă đề xuất công nhận một nền văn hoá mang tên là văn hoá Hoà B́nh. Theo Tiến sỹ Nguyễn Việt, Trung tâm tiền sử Đồng Nam Á: Hang xóm Trại là một điểm cư trú lâu dài của người nguyên thuỷ trong văn hoá Hoà B́nh. Theo kết quả nghiên cứu mới nhất, địa điểm này có niên đại cách ngày nay từ khoảng 22 ngh́n năm. Tầng văn hoá trong hang có độ dầy trung b́nh lên tới 5m. Lối đi cổ mới phát hiện ở ngách phía Bắc hang có niên đại vào khoảng 22 ngh́n năm. Đây là lối đi đầu tiên của người nguyên thuỷ ra, vào hang. Bên cạnh những phát hiện mới về lối đi cổ, về mộ táng, về niên đại, hang xóm Trại c̣n tiêu biểu của Văn hoá Hoà B́nh không chỉ ở Việt Nam mà c̣n là di tích tiêu biểu trong khu vực Đông Nam Á. Đây vừa là nơi cư trú lâu dài với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn thức ăn dồi dào, vừa là công xưởng chế tác công cụ của cư dân Văn hoá Hoà B́nh.

Hang xóm Trại

Qua những phân tích khoa học, hang xóm Trại không chỉ khẳng định là cái nôi sinh sống của người Việt cổ mà nó c̣n là “bảo tàng” văn hoá của người Việt cổ. Với sự xuất hiện liên tiếp của các thời kỳ văn hoá như thời kỳ đồ đá, văn hoá Phùng Nguyên, thời kỳ nhà Trần, nhà Lê.

Cho đến thời điểm này, hang xóm Trại có khoảng trên 4 ngh́n hiện vật được khai quật. Qua các so sánh th́ đây là hang phát hiện được nhiều hiện vật nhất và có nhiều tầng văn hóa nhất trong khu vực Đông Nam Á. Với số lượng hiện vật được phát hiện đă khẳng định đây là hang được người nguyên thủy sử dụng sớm nhất và lâu đời nhất. Đặc biệt, ngoài việc phát hiện 2 lối đi cổ, các nhà nghiên cứu c̣n t́m thấy vết tích tro bếp - một hiện vật tiền sử sớm nhất ở Việt Nam - và bộ hài cốt có độ tuổi trên 14 ngh́n đến 17 ngh́n năm.

Trước đó, cuộc khai quật hang xóm Trại vào những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu đă phát hiện những hạt thóc của người xưa rơi văi. Sau khi phân tích đă xác định các hiện vật này thuộc thời Trần. Việc khai quật di tích cũng đă phát hiện vết tích của mộ táng cuối thời Trần đầu thời Lê vẫn c̣n gần như nguyên vẹn. Qua đó cho thấy các tầng lớp văn hoá ở đây rất dày. Được xếp tầng tầng lớp lớp thể hiện qua các công cụ khai quật dưới các tầng sâu trong ḷng hang. “Từ các cứ liệu thu được, có thể khẳng định đây là di tích Văn hoá Hoà B́nh có bộ di vật phong phú nhất về công cụ đá, cũng như công cụ xương. Đặc biệt là số lượng công cụ đá cuội mài lưỡi thu được trong các lần khai quật khá phong phú so với các di tích Văn hoá Hoà B́nh đă được khai quật từ trước đến nay”, Tiến sỹ Nguyễn Việt cho biết. Công cụ đá t́m thấy ở đây đă cho thấy kỹ thuật chế tác đá khá điêu luyện của người Việt cổ.

Ngoài những công cụ đá, mộ táng của người nguyên thủy như ŕu đá, xương thú, các nhà nghiên cứu c̣n t́m thấy vỏ trấu, vỏ quả óc chó và rất nhiều hoá thạch của vỏ ốc. Đây được coi là thức ăn thường dùng của người Việt cổ. Với chiều rộng của hang trung b́nh 7m và chiều dài từ miệng vào đáy khoảng 22m, sâu khoảng 7-10m, qua hàng ngh́n năm vùi lấp chủ yếu là vỏ ốc ken đặc. Tiến sỹ Nguyễn Việt nhận định: Phải qua hàng chục ngh́n năm mới tích tụ được lớp vỏ thức ăn dày như vậy. Để khai quật, các nhà khảo cổ đă phải đào vét lượng ốc hóa thạch khổng lồ đổ xuống triền núi đá làm lối đi. Việc phát hiện các tầng văn hóa tại hang xóm Trại đă khẳng định đây là điển h́nh của nền văn hóa Ḥa B́nh không chỉ của các nước Đông Nam Á mà c̣n thuộc loại hiếm có trên thế giới.

Cách thức ăn ốc cho đến ốc mà người Việt cổ thường dùng, đă được kế thừa cho đến ngày nay. Đến nay, đồng bào Mường ở Ḥa B́nh vẫn dùng ốc bằng cách chặt đuôi để hút thịt. Sự kế thừa của người cổ xưa vẫn hiển hiện trong đời sống sinh hoạt của bà con như chứng tích cụ thể minh chứng cho lịch sử của người Việt cổ có nguồn gốc trên lănh thổ Việt Nam. Theo tính toán khoa học, b́nh quân 1m3 vỏ ốc trong hang xóm Trại đếm được khoảng hơn 40 ngh́n vỏ ốc. Số lượng này tương đương với khoảng 300kg thịt ốc. Căn cứ theo các tầng ốc hóa thạch qua các thời kỳ có thể thấy phải qua hàng chục ngh́n năm mới có được tầng vỏ ken đặc như vậy. Với những cứ liệu đó, hang xóm Trại xứng đáng được gọi là “bảo tàng” văn hoá của người Việt cổ.

Hoà B́nh -  nơi lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống

Hoà B́nh là một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong đó điển h́nh là các dân tộc Mường, Thái, Mông Đen. Đây là những tộc người có quá tŕnh cộng cư lâu đời ở các huyện Tân Lạc, Mai Châu của tỉnh Hoà B́nh, đă bảo lưu được những nét văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá dân tộc Việt Nam.

Hoà B́nh – nơi có người Mường tập trung đông đảo nhất và cũng là nơi văn hoá Mường rơ nét nhất, chính v́ thế nói văn hoá dân tộc ở tỉnh Hoà B́nh th́ trước hết phả nói tới văn hoá của dân tộc Mường.

 

Do những đặc điểm về lịch sử và vị trí địa lư cho nên người Mường c̣n bảo lưu được nhiều giá trị văn hoá cổ truyền. Phần lớn đồng bào Mường vẫn ở nhà sàn, uống rượu cần và có nhiều sinh hoạt văn hoá cộng đồng trên nhà sàn. Truyền thống đạo đức gia đ́nh giữ được những nét đẹp: Yêu trẻ, kính già, hiếu khách. Người Mường vẫn giữ được những lễ hội cổ truyền: Hội xuân Xéc bùa, hội Xuống đồng, hội cầu Ma, lễ Rửa lá lúa, lế Cơm mới...Trong các lễ hội không thể thiếu cồng chiêng – một nhạc cụ gần như bất hủ của đồng bào Mường.

Người Mường có dân số khoảng trên 1 triệu người, sống xen kẽ với các dân tộc anh em tại các vùng Thanh hoá , Sơn la, Phú thọ, Hà tây, Ninh b́nh và miền tây Nghệ an. Riêng ở Hoà b́nh có khoảng 400.000 người, chiếm 60% dân số của tỉnh.

Là một tôc người bản địa có cùng nguồn gốc xa xưa với người Kinh, sau khi phân hoá thành hai tộc người với đầy đủ yếu tố của từng dân tộc, người Mường tiếp tục lưu giữ và phát triển nền văn hoá của ḿnh rất phong phú và độc đáo, đó là ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật...

Tiếng Mường thuộc ngữ hệ Đông Nam Á, nhóm Việt Mường. Tiếng Mường có nhiều phương ngữ khác nhau nhưng trên cơ sở của phương ngữ Bi, Vang, Thàng, Động là trung tâm cư trú của người Mường, đó cũng là những nơi phát tích của người Mường. Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ th́ tiếng Mường Bi có nhiều thanh điệu nhất, gồm 6 thanh điệu. Tiếng Mường c̣n có những đặc điểm gần giống một số tộc người ở miền Trung như Chút, Pọng, Arem.

Người Mường ở nhà sàn, nhà sàn Mường thấp và nhỏ hơn so với nhà sàn của người Tày, người Thái. Kiến trúc đơn giản và thanh thoát. Người Mường thờ tổ tiên, Thành Hoàng, Thánh Tản Viên, thờ Vua Mỡi, Thần bảo hộ sự yên lành, thờ thổ công và một số thần khác, người mường có tục thờ cây, thờ đá...

Trang phục của người Mường kế thừa và phát triển lối trang phục thời Hùng Vương, ngày nay c̣n thấy biểu hiện rơ nét nhất ở trang phuc phụ nữ, nhất là phụ nữ quyền quư.

Trang phục Mường khá độc đáo. Nam giới mặc bộ quần áo cánh màu nâu, màu chàm dệt bằng bông sợi thô; phụ nữ đội khăn trắng h́nh chữ nhật nơi đỉnh đầu, mặc yếm và áo cánh ngắn thân có xẻ ngực, không cài cúc. Váy Mường thả dài từ ngang vồng ngực xuống chấm gót chân làm tôn thêm vẻ mềm mại của người xứ núi. Sự tinh sảo thể hiện ở cạp váy được dệt bằng tơ nhiều màu tạo ra những hoa văn h́nh học và những h́nh chim thú, rồng phượng cách điệu.

Đồ trang sức gồm vàng, bạc đeo tay chạm trổ h́nh hoa leo, h́nh chữ chi chồng lên nhau, lng đeo bộ dây xà tích 4 cạnh, cả quả đào, chùm vuốt hổ bọc bạc, tay đeo những hạt cườm bằng đá nhiều màu.

Người Mường xưa ăn xôi nếp, gặp mùa đói kém th́ ăn cơm tẻ nhưng cũng ngâm đồ như cơm nếp. Người Mường đặc biệt ưa chuộng các món ăn chua và đắng, món ăn đặc sản là cá đồ măng chua, canh đắng. Họ biết làm rượu từ rất lâu, khi chưa biết chưng cất rượu th́ thức uống chính của người Mường trong lúc vui là rượu cần. Người ta đặt ra các luật uống để kéo dài thời gian vui chơi, ngày nay rượu cần được coi là đặc sản.

Lễ hội lớn nhất và phổ biến nhất ở khắp Mường là lễ hội "Khuống mùa" (xuống đồng), lễ hội này chỉ tổ chức vào đầu năm mới, người ta rước Thánh Tản về miếu thờ, trên đường rước cũng nh khi đă hành lễ xong, người ta vui chơ, ăn uống, ca hát, cồng chiêng đến tối mới tan hội. C̣n nhiều lễ hội khác như Hội làm thuỷ lợi, Lễ cầu ma, lễ Thành Hoàng... cũng tổ chức vào dịp đầu năm. Lễ mừng cơm mới, mừng nhà mới tổ chức ở phạm vi gia đ́nh, có họ hàng, láng giềng đến dự.

Lễ cưới người Mường tiến hành theo các bước t́m hiểu, ướm hỏi (kháo thiếp), sau lễ kháo thiếp là lễ ăn hỏi chính thức, sau lễ ăn hỏi là lễ "đi ṃn", sau lễ đi ṃn là lễ "đi cháu". Rể đến nhà bố mẹ vợ trong lễ này và họ hàng hai bên tổ chức ăn uống tại nhà gái. Sau lễ đi cháu vài năm mới tổ chức đón dâu, lễ này cùng đi với cô dau về nhà chồng c̣n có đại diện bên nội, ngoại cô dâu rất đông đến vui ăn uống tại nhà trai. Lễ cưới của người Mường thường tổ chức vào ban đêm. Một đặc điểm hôn nhân của người Mường là phải sau lễ cưới một thời gian khá dài, đôi vợ chồng mới chính thức được cha mẹ hai bên cho chung chăn gối, lúc đó nàng dâu mới ở hẳn bên nhà chồng để thực sự bắt tay vào xây dựng cuộc sống vợ chồng.

Tang lễ người Mường nếu thực hiện đầy đủ phải mất 12 ngày đêm v́ nó là một chuỗi các nghi lễ phức tạp quy tụ nhiều loại h́nh văn hoá dân gian mang tính nhân bản sâu sắc.

Văn học dân gian Mường rất phóng phú đa dạng: Trường ca "Đẻ đất đẻ nước" dài hàng vạn câu thơ được diễn xướng bằng nhiều khúc đoạn. Toàn bộ Trường ca phản ánh quan niệm của người Mường về vũ trụ, con người; phản ánh lịch sử đấu tranh lâu dài gian khổ của con người trước thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Truyện thơ dài có "Vườn hoa núi cói, "Hùng nga Hai mối", "út lót Hồ liêu", "Tràng đồng"... Đó là những truyện thơ được người Mường yêu quư và nhiều người trong cộng đồng Việt Nam biết tới. Truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện cười, ca dao, tục ngữ, thành ngữ, vè, câu đối rất phong phú đă được tập hợp xuất bản ở nhiều đầu sách của Trung ương và địa phương.

Lối hát giao duyên, hát chúc hát mừng được thể hiện ở các h́nh thức hát "thường đang, "bộ mẹng", hát ví gồm hàng loạt bài thơ dài ngắn khác nhau được định h́nh từ lâu và ngày càng được sáng taọ, bổ sung. Người Mường thường ví sự phong phú của thể loại văn học này là "Thường đang chín gánh bảy mùa" hát măi không hết. Sự phong phú đa dạng của văn hoá Mường đă đóng góp xứng đáng vào văn hoá dân gian Việt Nam.

Nhạc cụ của người Mường gồm cồng, chiêng, c̣ ke, ống sáo, kèn gỗ, ống ôi, phỉ đôi, ḅng beng, trống đồng, trống gỗ, đàn máng (đàn bầu), đàn tam, đàn tớ ính (đàn môi), kiểng, chũm choẹ.

Về hoà tấu, có hai loại tấu: Dàn chiêng sắc bùa gồm từ 6 đến 12 chiếc chiêng to và dàn nhạc c̣ ke ống sáo. Hoà tấu chiêng thường vào các dịp tết, ngày vui. Người Mường coi chiêng là vật gia bảo, là sự giàu có thịnh vượng. Độc tấu sáo ôi thường được tấu lên trong khung cảnh đêm trăng thanh vắng để gọi bạn t́nh.

Nghệ thuật múa có múa "quạt ma" là điệu múa của các nàng dâu trong đám tang với ư nghĩa là quạt hầu cho hồn người quá cố. Điệu múa này có trang phục lộng lẫy và trang sức rất đẹp mắt. Ngoài ra c̣n có múa tế lễ vật cũng thực hành trong lễ tang, múa tế cờ thực hành trong giờ phút trước khi ra trận.

Tṛ chơi dân gian là một bộ phận quan trọng trong văn hoá Mường. Người lớn có tṛ chơi ném c̣n, chơi đu, bắn nỏ, bắn súng hoả mai thường diễn ra trong các dịp lễ hội. Phong phú nhất là các tṛ chơi của trẻ em, đó là các tṛ như đánh mảng, đánh cắt, đánh cḥ rất độc đáo, khoẻ khoắn lôi cuốn nhiều trẻ em tham gia. Những tṛ chơi gắn với đồng giao như "chằn chỉ, chằn chăn", tṛ "đập boồng boông". Tṛ chơi dân gian góp phần vào sự phát triển toàn diện của trẻ em, do đó nó không thể thiếu vắng trong đời sống văn hoá của người Mường.

Văn hoá Mường đă góp phần xứng đáng vào sự phong phú, đa dạng và thống nhất của nền văn hoá Việt Nam.

Cùng với văn hoá Mường, văn hoá các dân tộc Thái, H’Mông, Dao sống trên mảnh đất Hoà B́nh đă tạo nên sự phong phú đa dạng cùng những nét riêng của văn hoá trên mảnh đất này.

Cũng giống như nguời Mường, người Thái Hoà B́nh cũng làm nhà sàn, song nhà sàn Thái rộng hơn, sắp xếp quy củ hơn. Trang phục của người Thái đa dạng và hết sức độc đáo. Trang phục phụ nữ Thái có những hoa văn trang trí mang biểu tượng thiên nhiên đa dạng: chim muông, cây cỏ. mặt trời. Đai thắt lưng và khăn Piêu là những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo. Dân tộc Thái có nhiều lế hội mang sắc thái riêng: lễ ra lửa. lễ cưới, lễ cơm mới, lễ hội ném c̣n, múa quạt. Đặc biệt xoè Thái là hấp dẫn nhất. Nếu vào các bản thái và được thưởng thức hương vị cá đồ, măng đắng, là coi như bạn đă trở thành người khách quư. Một số bản Thái ở Mai Châu từ lâu đă cuốn hút và làm cho du khách sững sờ trước vẻ đẹp của thiên nhiên cùng sự phong phú, độc đáo của nếp sinh hoạt Thái.

Dân tộc H’Mông Hoà B́nh sống trên các đỉnh núi cao. Trang phục của người H’Mông có kết cấu hoa văn khác lạ. Con trai H’Mông có tục “Bắt vợ” rất thú vị và là quy ước để nâng cao giá trị ngườ con gái. Ngườ H’Mông là tác giả của tục chơi cù quay, một tṛ chơi sôi động cuốn hút nhiều người tham dự. Tiếng khèn và những điệu múa khèn mang nhiều sắc thái t́nh cảm, văn hoá rất độc đáo. Cái khèn kà ngườ bạn tâm t́nh của người H’Mông, nó đă ăn sâu vào từng phong tục, nếp sống của người H’Mông.

Người Dao mỗi khi có cháu bé chào đời thường tổ chức lễ “Dâng hương cúng Mạ” để cầu mong cho cháu bé được lơn lên trong sự đùm bọc yêu thương. “Tết nhảy” là một nét độc đáo của người Dao mang sắc thái gia đ́nh. Tết tổ chức ở một vài nhà nhưng được bản coi như tết chung. Tất cả mọi người đều ăn uống, nhảy múa vui vẻ trong 3 ngày liền. Du khách nếu có dịp đến đúng vào “tết Nhảy” th́ khó mà từ chối một lời mời nhiệt t́nh của chủ nhân, chỉ khi nào bạn được ăn uống no say mới được về.

Có thể nói, văn hoá Hoà B́nh với sự phong phú, đa dạng của nền văn hoá các dân tộc, đă để lại những giá trị to lớn không chỉ cho Việt Nam mà c̣n của cả thế giới. Các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể mang đậm nét bản sắc văn hoá của các dân tộc, bản sắc văn hoá núi rừng Hoà B́nh như: cơm lam, rượu cần, nhà sàn, vải thổ cẩm, kỹ thuật trồng lúa nước trên các chân ruộng bậc thang, ngôn ngữ, chữ viết, các áng mo mỡi, các làn điệu dân ca (ví đúm, thường rang, bọ mẹng), các nhạc cụ cồng chiêng, các điệu múa quạt và múa xoè, nhảy sạp, các phong tục, tập quán và lễ hội khác là sản phẩm trí tuệ được nhân dân các dân tộc Hoà b́nh đúc rút, sáng tạo trong lao động và được giữ ǵn qua hàng ngh́n năm dựng nước và giữ nước. Những giá trị văn hoá đó tạo nên nền văn hoá Hoà B́nh đậm đà bản sắc dân tộc, tạo nên nét đặc trưng văn hoá, cốt cách nhân dân các dân tộc thiểu số Hoà B́nh.

Cinet tổng hợp