![]() |
||||
|
Đồng Nai thuộc miền Đông Nam Bộ, miền đất trù phú đă có hơn 300 năm h́nh thành và phát triển do con sông Đồng Nai đem đất phù sa mầu mỡ vun bồi. Nhiều biến cố lịch sử với những thăng trầm bién động đă tạo ra cho tiểu vùng văn hoá này một nét độc đáo về bản sắc văn hoá.
Đồng Nai, vùng đất cổ có nhiều di chỉ của nền văn hóa Phù Nam cách đây hơn 1.300 năm. Lịch sử Nam tiến của ông cha ta đă để lại nhiều dấu ấn trên vùng đất này. Miền Gia Định - Đồng Nai hồi ấy c̣n rất nhiều điều bí ẩn, lạ lùng nhưng cũng không kém phần hấp dẫn, gợi sự ṭ ṃ muốn khám phá của người đương thời: “Đồng Nai địa thế hăi hùng Dưới sông sấu lội trên giồng cọp um” Thời bấy giờ chỉ có người dân bản xứ gồm các sắc dân như dân tộc Siêng, dân tộc Mạ, dân tộc Kơ-ho, dân tộc M'nông, dân tộc Chơ-ro và một vài buôn sóc người Khơ-me sinh sống. Dân cư thưa thớt, sống rải rắc chứ không sống thành cộng đồng, kỹ thuật sản xuất rất thô sơ, tŕnh độ xă hội c̣n thấp kém. Cuộc chiến tranh giữa hai họ Trịnh - Nguyễn ở miền Trung và Bắc Việt Nam làm cho dân chúng lầm than khổ sở, điêu đứng nên đă tạo ra một làn sóng di cư của người dân miền Thuận an, Quảng Nam, Quảng Ngăi vào Đồng Nai t́m đất để sinh sống. Những cuộc Nam tiến đă mang theo những nền văn hóa đàng ngoài và tạo dựng nên một bản sắc văn hóa phương nam không lẫn vào đâu được…
Văn miếu Trấn Biên
Văn miếu Trấn Biên là một minh chứng cho sự dịch chuyển của văn hóa thời này - Văn miếu Trấn Biên là một công tŕnh văn hóa được xây dựng vào thế kỷ 17, đời chúa Nguyễn Phúc Chu ở phường Bửu Long, thành phố Biên Ḥa ngày nay. Công tŕnh này thể hiện truyền thống khuyến học, tôn trọng kẻ sĩ của người Việt ngày ấy. Vào tháng 12 năm 1861, Văn miếu Trấn Biên đă bị giặc Pháp phá hủy khi người Pháp chiếm đóng Biên Ḥa. Ngày nay, Văn miếu Trấn Biên đă được tái dựng, kiến trúc theo phong cách Văn miếu Hà Nội, đẹp, mang đậm bản sắc văn hóa phương Đông. Tại văn miếu này, hàng năm có hai sự kiện văn hóa lớn là Xuân Vinh diễn ra vào tháng 2 âm lịch và Thu Vinh diễn ra vào tháng 8 âm lịch. Hai lễ hội truyền thống này mang ư nghĩa khuyến học nhằm tôn vinh những hiền tài, nhân sĩ trí thức. Mộ cổ Hàng G̣n ở xă Xuân Tân, thị xă Long Khánh ở phía Tây Tỉnh lộ 2 đường Long Khánh đi Bà Rịa, cách thành phố Biên Ḥa 80km, cũng là một di tích văn hóa tiêu biểu cho nền văn hóa cách đây hơn 2.500 năm. Mộ cổ này do kỹ sư cầu đường người Pháp là ông Bouchot J. t́m ra vào năm 1927 khi mở đường số 2 nối Long Khánh với Bà Rịa. Ngôi mộ có kiến trúc theo phong cách “Dolmen” ở Đông Nam Á. Có hai hàng trụ đá hoa cương với 10 trụ, mỗi trụ cao từ 1,5m đến 3m bao quanh hầm mộ. Mộ được ghép bằng những tấm đá hoa cương nặng hàng tấn, phần nắp mộ ước tính chừng 10 tấn. Chung quanh mộ có nhiều tấm đá lớn xếp bằng phẳng, tinh xảo và cân đối, thể hiện tŕnh độ văn minh của người xưa cách nay đă hàng mấy thiên niên kỷ. Năm 1992, ngôi mộ cổ này đă được trùng tu, xây tường gạch bảo vệ, chống mưa gió xói ṃn, chung quanh trồng nhiều cây cảnh đẹp. Điểm đặc biệt của Đồng Nai là có nhiều chùa, đ́nh và đền thờ được xây dựng vào thời kỳ tiền nhân ta tiến vào vùng đất hoang vu này cách đây trên 300 năm như chùa Long Thiền ở phường Bửu Ḥa, thành phố Biên Ḥa được xây dựng vào năm 1664. Đây là một trong ba ngôi chùa cổ nhất c̣n lại đến ngày nay trên đất Biên Ḥa. Năm 1662, ngài Nguyên Thiều thiền sư thuộc phái Lâm Tế (Bắc tông) nguyên trụ tŕ chùa Quốc Ân và Thiên Mụ (Phú Xuân - Huế) bị chúa Minh vương Nguyễn Phúc Chu nghi ngờ có dính líu đến một số người nổi dậy chống chúa, nên trốn vào Đồng Nai ẩn tu tại chùa Kim Cang. Thiền sư Nguyên Thiều viên tịch vào năm Mậu Thân (1728). Các đệ tử của ngài đă xây dựng nên chùa Long Thiền và một số chùa lớn khác ở vùng Gia Định - Đồng Nai như chùa Bửu Long, Đại Giác, Khải Tường, Từ Ân, Giác Lâm c̣n tồn tại đến ngày nay. Chùa Long Thiền kiến trúc theo h́nh chữ “tam” mang phong cách và dấu ấn Phật giáo đại thừa. Trong chánh điện c̣n thờ nhiều pho tượng Phật cổ bằng đất nung và bằng đồng. Chùa Long Thiền là nơi truyền bá Phật giáo đầu tiên ở Nam bộ .
Đền thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh
Ở xă Hiệp Ḥa, thành phố Biên Ḥa, có đền thờ Lễ Thành hầu Nguyễn
Hữu Cảnh - vị công thần của nhà Nguyễn – đă khai phá đất Đồng Nai.
Ông đă được chúa Nguyễn sai đi kinh lư, vẽ bản đồ và xác lập cương
thổ Đàng Trong. Năm Gia Long thứ nhất, đền thờ được trùng tu, đến
năm 1851 đền được trùng tu lần thứ hai, và năm 1960 đền được trùng
tu thêm lần nữa.
Truyền thống văn hoá dân gian phong phú
Đồng Nai có nhiều dân tộc sinh sống, phần lớn là người Việt. Ngoài
ra c̣n có người Hoa, Xiêng, Chơ Ro, Chăm, Mạ… Đồng Nai có một truyền
thống văn hóa dân gian khá phong phú, đặc biệt là văn hóa dân dộc
của đồng bào ít người.
Tếp nối quá tŕnh phát triển lịch sử, cư dân Miền Nam nói chung, dân Đồng Nai nói riêng họ đă sáng tạo nên rất nhiều loại nhạc khí và thể loại ca nhạc để bộc lộ tâm tư t́nh cảm, và để lưu truyền cho con cháu, hay để giao tiếp với thế giới thần linh trong tâm tưởng, ước mơ một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đồng Nai, quê hương của các loại nhạc cụ dân gian độc đáo như đàn đá B́nh Đa, sáo trúc, chiềng đồng, thanh la, khèn bầu, khèn môi. Việc t́m ra đàn đá B́nh Đa ở Đồng Nai, được biết đến như một di chỉ khảo cổ học, cho thấy việc chế tác đàn đá đă xuất hiện từ trên dưới 3,000 năm trước. Loại nhạc khí này tự thân vang, thuộc loại xylophone, metallophone. Mỗi bộ đàn gồm nhiều thanh đá hợp thành. Mỗi thanh đá có kích thước và h́nh dáng khác nhau được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo thô sơ (thời đồ đá). Vật liệu để làm đàn là những loại đá có sẵn ở vùng núi Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. (Bộ đàn đá đầu tiên t́m được tại Việt Nam vào năm 1949 hiện được bảo quản tại viện bảo tàng "Con người" Ở Paris) Nghệ thuật truyền thống Do mới h́nh thành từ sự hội nhập của nhiều lớp dân cư cách đây hơn ba thập kỷ, ở Đồng Nai không có các làn điệu dân ca nào đặc thù, nhưng lại có gần đủ các loại dân ca xứ Trung, xứ Bắc, quan họ, ca Huế, ví dặm ... Trong sinh hoạt thông thường, người Đồng Nai xưa có sinh hoạt nghệ thuật: ḥ hát, lư, kể vè, nói thơ, nói tuồng, đồng dao, đờn ca tài tử. Phổ biến ở Biên Ḥa là ḥ cấy, ḥ chèo thuyền, ḥ giă gạo, ḥ đ̣ dọc, ḥ rỗi, lư Đồng Nai, lư lu là, lư trèo lên. Các bài vè quen thuộc đă lưu truyền cả nước: vè Hương thân Cẩn, vè rượu ... Thơ được kể ở Đồng Nai thường là truyện Nôm: Lục Vân Tiên, Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa ...
Nói tuồng thường được đặc diễn các trích đoạn tuồng tích Tàu hoặc
tuồng tích dân gian. C̣n phải kể đến lối hát Tam Pót của dân tộc Mạ, một loại h́nh hát kể có vần điệu được lưu truyền trong cộng đồng người Mạ ở huyện Định Quán hiện đang được khôi phục lại. Lễ hội truyền thống:
Lễ hội Kỳ yên
Cũng như các địa phương khác trong cả nước, người Đông Nai cũng tổ chức các lễ hội truyền thống chung của cả dân tộc như Tết Nguyên Đán, Rằm Tháng Bảy, Tết Trung thu…Các lễ hội này được tổ chức vừa mang bản sắc văn hoá chung của dân tộc, vừa có nét đặc sắc riêng của văn hoá Đồng Nai Ngoài ra, Đồng Nai c̣n có các lễ hội lớn của riêng địa phương ḿnh. Tiêu biểu là các lễ hội như: Lễ Kỳ Yên (cầu an) c̣n gọi là lễ vía thần được tổ chức tại các thời điểm khác nhau trong một năm. Nghi lễ của lễ Kỳ Yên cũng giống như nghi thức của lễ cúng Đ́nh thần Nam Bộ bao gồm: lễ cúng Tiền hiền, Hậu hiền, lễ rước thần, lễ dâng vật cúng thần và lễ tống ôn. Ba năm một lần có tổ chức hát bội, múa. Tại đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, lễ Kỳ Yên được tổ chức vào các ngày 26/6 và 11/11 âm lịch. Tại đ́nh An Ḥa, lễ Kỳ Yên được tổ chức vào ngày 15 và 16 tháng 8 âm lịch. Ngoài phần lễ c̣n có hội đua thuyền, xô giàn thí thực. Đến giờ ngọ, giàn được xô ra cho mọi người cùng tranh lấy đồ cúng như là sự ban phát của thần linh. Đền thờ danh tướng Nguyễn Tri Phương, lễ Kỳ Yên được tồ chức vào ngày 16 và 17 tháng 10 âm lịch. Đ́nh Tân Lân thờ Trấn Biên đô đốc Trấn Thượng Xuyên, tổ chức lễ Kỳ Yên vào ngày 23 tháng 11 âm lịch. Các dân tộc Chăm, Khmet… sống ở đây hàng năm cũng thường tổ chức các lễ hội đặc trưng của dân tộc ḿnh: lễ Roja Haji (người Chăm), lễ hội Chôi Chanam Thmây (Khmer). Văn học dân gian Kho tàng văn học lưu truyền trong dân gian chủ yếu bằng cách truyền khẩu, gồm nhiều cách: tự sự trữ t́nh dưới các h́nh thức, truyện kể, thơ ca ḥ vè ... Truyện kể : Ở đồng bào các dân tộc ít người, truyện kể là tài sản tinh thần quan trọng. Đó là "lịch sử" là luật tục, là h́nh mẫu nếp sống cổ truyền của cha ông, đồng tời cũng là cách để thư giăn tinh thàn. Truyện kể của người Châu Mạ, Châu Ro, Stiêng thường tự sự dưới h́nh thức văn vần mà Già làng thường kể trong không khí sinh hoạt cộng đồng ở nhà dài, ở các lễ hội gia đ́nh hoặc cộng đồng. Người Châu Mạ, Châu Ro, Stiêng c̣n lưu truyền mảng thần thoại, truyền thuyết nhằm giải thích các hiện tượng tự nhiên và sự h́nh thành cộng đồng.
C̣n truyện kể của người Việt không nhiều, do phát triển từ nhận thức,
kinh nghiệm vốn sống đă trưởng thành nhiều trăm năm qua ở nguyên
quán nên người Việt ở Đồng Nai không có thần thoại nguyên mẫu, vắng
bóng truyền thuyết, truyện kể ít hư cấu hoang đường. Truyện loại này
thường mang dấu ấn thần thoại tích hợp vào vùng đất mới giải thích
về nguồn gốc địa danh, tên núi, tên sông hoặc những hiện tượng lạ
của tự nhiên chưa giải thích. Tiếng Châu Mạ, Stiêng, Châu Ro giàu chất thơ. Những lời hát đối đáp giao duyên trong lao động và những bài ca nghi lễ thường đọng lại trong ca dao trữ t́nh. Thơ ca dân gian của người Việt khá phong phú. Phong phú nhất là mảng ca dao trữ t́nh mang theo trong hành trang của người Việt đến xứ sở Biên Ḥa - Đồng Nai. Ngoài ra c̣n có nhiều ca dao, dân ca miền Trung, miền Bắc được biến thể đôi chút gắn với hoàn cảnh, địa lư địa phương phù hợp tâm tư cư dân vùng đất mới ... Tục ngữ phương ngôn :
Tục ngữ phương ngôn của đồng bào dân tộc Châu Mạ, Châu Ro, Stiêng
chủ yếu truyền khẩu qua lời nói, do các dân tộc ít người trên địa
bàn Biên Ḥa - Đồng Nai chưa có chữ viết. Văn học viết
Văn học viết Đồng Nai cũng như cả vùng Nam bộ nói chung, chỉ thực sự
xuất hiện khi vùng này có những trí thức Nho học thế kỷ XVII, khi
đất Đồng Nai - Gia Định có tên trên bản đồ Đại Việt.
Trang phục của Miền Đồng Nai có một ít thay đổi theo thời gian. Hiện
nay bộ đồ truyền thống của đàn ông là khăn đống áo dài th́ đă được
thay thế bằng bộ âu phục.
Âm thực: Người Biên Ḥa - Đồng Nai thường ăn một ngày ba bữa sáng th́ cháo đậu ăn với cá lóc kho tiêu, hay cháo đậu nước cốt dừa, trưa và chiều tối th́ cơm canh bầu nấu với cá trê vàng, hoặc cá lóc kho thơm, canh chua cá lóc, hay mắm kho ghém rau sống, mắm đồng chưng trứng, canh khổ qua dồn thịt.
Người Đồng Nai làm thức ăn cũng lắm công phu và nhiều kiểu cách. Như
món hầm là phải nấu thật nhừ thịt heo thịt ḅ với một ít nước, tương
tự như món tiềm của người Trung Hoa. Canh là món có nhiều nước,
thường nấu hỗn hợp thịt cá với các loại rau có vị mát mà phổ biến và
đặc trưng nhất là canh chua cá lóc với me làm chua và các loại bạc
hà. giâm, đậu bắp, bắp chuối, rau om, ớt sừng.
Tổng hợp |
||||