"Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi qua ngơ

Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay"

Từ bao đời nay hát chèo đă trở thành một loại h́nh sinh hoạt văn hóa nghệ thuật quen thuộc của người dân Việt Nam, nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc bởi cái chất trữ t́nh đằm thắm sâu sắc. Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian dân tộc, chèo là một loại h́nh sân khấu kịch hát đậm đà tính dân tộc, với sự kết hợp nhuần nhuyễn của hàng loạt yếu tố: hát, múa, nhạc, kịch mang tính nguyên hợp vô cùng độc đáo.

Hát chèo Việt Nam - Loại h́nh sân khấu của hội hè

Vùng trung châu và đồng bằng Bắc bộ là cái nôi của chèo, từ cái nôi ấy sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử nghệ thuật chèo ngày càng phát triển và khẳng định được tầm quan trọng trong nền văn hóa dân gian dân tộc. 

Chèo thường diễn trong các hội hè đ́nh đám khắp vùng đồng bằng và trung châu miền Bắc mấy tháng Xuân, Thu hàng năm trước đây, mà không ít người xem đă thuộc làu cả tích, chí ít cũng đôi đoạn, dăm câu, khen chê tài diễn của nghệ nhân đâu ra đấy. V́ thế, đă có người đặt chèo vào loại sân khấu hội hè, vừa để nói tính quần chúng vừa nói đến cái cười trong diễn xuất của nó.

Song không mấy loại sân khấu hội hè ở phương Tây thế kỷ XV hoặc XVI với phần lớn kịch ngắn vui nhộn diễn cương. Chèo cũng có số nhân vật chuyên làm hề và không ít nhân vật "'đá" vào pha tṛ đây đó, dùng kể chuyện hoặc hát múa gây cười, lấy ứng tác ứng diễn là chính và dẫu chiếm thời gian dài của đêm hát, song những đoạn tṛ cười đó c̣n rời rạc, ít ăn nhập với tích tṛ (thường mang tính bi).

Có thể nói nghệ thuật chèo mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam, chèo sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự trữ t́nh. Đặc biệt hơn là tính tổng hợp của sân khấu chèo từ bản tṛ, đến đề tài nhân vật với sự "pha âm cách điệu" giữa âm nhạc, hát và múa. Sân khấu chèo xưa ra đời từ các làng chèo với các múa hội hát. Cứ mỗi độ xuân sang người muôn nơi lại bồi hồi bởi sự thúc giục của trống chèo và những lời ca tiếng hát của nghệ nhân làng chèo. Người xưa có câu "nhất cử động giai điểm vũ" điều đó biểu hiện nét đặc trưng của nghệ thuật chèo là "tính múa", những diễn xuất tinh tế của nghệ nhân chèo đều ở điểm này mà ra. Với đôi bàn tay khéo léo từng cử chỉ, động tác đă toát lên cái "thần" của nhân vật, qua đó thấy được thành công của người diễn.

Từ mùa xuân rồi tới mùa thu trong các hội hè đ́nh đám ở khắp vùng đồng bằng Bắc bộ không khi nào thiếu vắng tiếng hát chèo. Cũng chính v́ thế mà chèo mang tính quần chúng và được gọi là loại h́nh sân khấu của hội hè. Công chúng đam mê chèo bởi khi đến với sân khấu chèo có thể tận hưởng niềm vui từ những tiếng cười châm biếm đả kích sắc và tinh tế. Trong mỗi vở diễn, mỗi t́nh tiết, mỗi lớp nhân vật của chèo đều có cái hài xen kẽ với cái bi, người xem bao giờ cũng coi trọng những yếu tố đó. Người xưa thường nói "có tích mới nên tṛ" điều đó khẳng định tích chuyện là linh hồn của vở diễn. Cũng chính v́ vậy mà chèo được đánh giá là loại h́nh sân khấu kịch hát kể chuyện dân tộc. Điều này đă làm nên đặc điểm cơ bản của nghệ thuật chèo cổ. Không những thế chèo c̣n thuộc loại sân khấu ước lệ cách điệu, sự khoa trương- tô phóng có tính chọn lọc đă làm nổi bật hơn những góc cạnh đặc trưng của nghệ thuật chèo- những mảng chèo đặc sắc được ra đời từ nhân tố đó.

Ở thời nào nghệ thuật đều chứng tỏ những nét tương đồng với lối sống của xă hội thời đó. Thời xưa chèo mang đậm dấu vết của những điệu múa dân gian, hàng loạt lễ tiết của phần cúng tế trong các hội làng ở miền bắc Việt Nam. Trong con đường phát triển của nghệ thuật chèo có h́nh thức tương hợp song song với sự phát triển và sáng tạo. Chèo hiện đại (chèo cải biên) đă khẳng định được vị thế của ḿnh với những vở diễn và h́nh tượng con người mới nhờ sự bảo tồn và phát huy truyền thống của nghệ thuật chèo cổ, xứng đáng tiêu biểu cho nghệ thuật sân khấu dân tộc. 

Đă có một thời, Hội chèo đôi khi kéo dài cả tuần lễ, mặc dầu c̣n lâu mới đến Hội nhưng trong mỗi gia đ́nh nông dân đều đă có sự chuẩn bị tham gia kỳ Hội với những vai chèo yêu thích. Trong các vở chèo cổ thường vạch mặt bọn quan lại phong kiến và thực dân áp bức giống ṇi. Ơở các vỡ diễn, người nông dân thấy được sự phản ánh đời sống của ḿnh với những mặt tích cực và phản diện, những ước mơ và ư niệm của ḿnh về cái thiện và cái ác. Mọi người đă yêu và càng yêu nghệ thuật chèo bởi tính nhân đạo và sự tươi mát của nó, và bởi nó mang màu sắc dân tộc độc đáo.

Những vở chèo - đó là các mẩu chuyện sân khấu của những tiểu thuyết thi ca, nó đặc trưng bởi chất thơ mộng, hành văn nhuần nhuyễn, nó có những truyền thống lâu đời của thi ca phương Đông. Ngoài việc chèo là một nghệ thuật được nảy sinh từ quần chúng nông dân, nó c̣n được sử dụng rất nhiều tục ngữ và ca dao dân gian do nhân dân sáng tạo ra qua hàng ngàn năm.

Nghệ thuật cơ bản trong các vai của diễn viên là múa mà qua đó nó có thể hiện được tất cả sự uyển chuyển nhịp nhàng của con người. Những nghệ nhân lớp trước thường nói rằng: "Múa h́nh tượng đẹp đẽ của nội tâm". Song song với cái đó, điệu múa trong chèo không hoàn toàn mang tính trừu tượng và tượng trưng, ước lệ như một số loại h́nh nghệ thuật thông thường khác bởi một lẽ nguồn gốc của nó là những h́nh ảnh sinh hoạt, lao động qua các buổi diễn ở nông thôn.

Trải qua biết bao thế hệ, đến hôm nay những người con đất Việt - cả những người đang sống trên đất nước Việt Nam và những kiều bào ở xa tổ quốc, luôn coi nghệ thuật chèo là một "viên ngọc long lanh sắc màu" trong kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian dân tộc.

Lịch sử nghề Hát chèo

Kinh đô Hoa Lư - Ninh B́nh được coi là đất tổ của sân khấu chèo, và người sáng lập là bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh vào thế kỷ 10. Sau này loại h́nh nghệ thuật biểu diễn này đă được phát triển rộng ra đồng bằng Bắc Bộ. Địa bàn phố biến từ Nghệ - Tĩnh trở ra.

Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cái nôi của nền văn minh lúa nước của người Việt. Mỗi khi vụ mùa được thu hoạch, họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và cảm tạ thần thánh đă phù hộ cho vụ mùa no ấm. Từ thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, họ đă biết biểu diễn các vở chèo đầu tiên trên sân đ́nh. Nhạc cụ chủ yếu của chèo là trống chèo. Chiếc trống là một phần của văn hoá cổ Việt Nam, người nông dân thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo.

Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là tṛ nhại từ thế kỷ 10. Qua thời gian, người Việt đă phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các tṛ nhại này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn.

Sự phát triển của chèo có một mốc quan trọng là thời điểm một binh sỹ quân đội Mông Cổ đă bị bắt ở Việt nam vào thế kỷ 14. Binh sỹ này vốn là một diễn viên nên đă đưa nghệ thuật Kinh kịch của Trung Quốc vào Việt Nam. Trước kia chèo chỉ có phần nói và ngâm các bài dân ca, nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật do người lính bị bắt mang tới, chèo có thêm phần hát.

Vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đă không cho phép biểu diễn chèo trong cung đ́nh, do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng. Do không được triều đ́nh ủng hộ, chèo trở về với những người hâm mộ ban đầu là nông dân, kịch bản lấy từ truyện viết bằng chữ Nôm. Tới thế kỷ 18, h́nh thức chèo đă được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19. Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu B́nh Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này. Đến thế kỷ 19, chèo ảnh hưởng của tuồng, khai thác một số tích truyện như Tống Trân, Phạm Tải, hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán Sở tranh hùng. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như Tô Thị, Nhị Độ Mai.

Chèo sân đ́nh, c̣n được gọi là chèo cổ: Là loại h́nh chèo cổ của những phường chèo xưa, thường được biểu diễn ở các sân đ́nh, sân chùa, sân nhà các gia đ́nh quyền quư. Sân khấu chèo sân đ́nh thường chỉ là một chiếc chiếu trải ngoài sân, đằng sau treo chiếc màn nhỏ, diễn viên và nhạc công ngồi hai bên mép chiếu tạo dàn đế. Chèo sân đ́nh diễn theo lối ước lệ, cảnh trí chỉ được thể hiện theo ngôn ngữ, động tác cách điệu của diễn viên. Đạo cụ của người diễn hay sử dụng là chiếc quạt.

Một cảnh trong vở

Hồ Xuân Hương

Trên đường xâm nhập ngày càng sâu vào mọi mặt sinh hoạt đời thường của bà con thôn xóm, những người làm chèo đă nhanh chóng kịp thời chuyển địa điểm diễn qua sân đ́nh, từ ḷng đ́nh hoặc thềm đ́nh quay ra ba phương sáu hướng, lấy đấy làm khán trường ngoài trời rộng răi phóng khoáng; Cứ thế, dần h́nh thành cả loạt nguyên tắc kịch thuật linh hoạt độc đáo, mà nhiều nhà chuyên môn gọi là sân khấu ba mặt.

Quá tŕnh t́m cách thể hiện các tích mới, nhân vật mới, t́nh huống mới, nghệ nhân đă vay mượn các loại dân ca, dân vũ tṛ diễn dân gian và "chèo hoá" chúng dần cho tới khi thành thủ pháp của vốn nghề nhà. Không loại trừ những cái mới không thể không sáng tạo, ban đầu có thể c̣n vụng về, gồ ghề, sau được người này kẻ kia uốn nắn sửa sang mà thành hay dần, đẹp dần, với sức diễn tả mạnh dần.

Dường như trong chèo cổ, cái cười ngày càng chiếm thời gian dài, càng chú ư phản ánh những thói hư tật xấu của đời thường. Điều đó, làm cho tính xă hội của chèo ngày mỗi nổi đậm về sau. Nổi bật hơn cả là lớp việc làng chỉ bằng nói thường, nói lối, nói rao, "ngâm thơ", với đủ thành phần nhân sự của bộ máy chính quyền cơ sở đại diện cho pháp luật, tập tục, đạo lư, tôn giáo, bị vạch mặt thật ê chề.

Song nhà nghề trân trọng ǵn giữ, coi là mẫu mực cho nghề Tổ, c̣n là cả loại h́nh tượng nhân vật nữ tốt có, chưa hẳn tốt có, chưa hẳn xấu cũng có, đặc biệt là số nhân vật nữ vượt khỏi ṿng kiềm toả của đạo lư phong kiến, như Thị Màu, đào Huế, Suư Vân,...

Một cảnh trong vở

Quan Âm thị Kính

Có điều, nếu Thị Màu chỉ là nhân vật đối tỷ cốt làm bật rơ sự nhẫn nhục của Thị Kính lần nữa, để đức độ nàng khả dĩ đủ mức lên toà sen thành Phật Quan Âm; nhân vật đào Huế tuy chẳng ai nói là "phản diện" nhưng cũng không được nhà Nho "ưa", vẫn chỉ là chi tiết phụ, mà nếu có lược đi cũng không hại ǵ đến kết cấu và chủ đề tích chuyện; c̣n Suư Vân, người phụ nữ bất đắc dĩ đành bỏ chồng, lại nằm vào bản thân (tích) tṛ, hay nói đúng hơn, dễ tới 2/3 thời gian diễn tích Kim Nham là để thể hiện nàng.

Thị Màu, Đào Huế, Suư Vân đều được nghệ nhân sáng tạo thành khuôn diễn với nhiều bài hát múa dành riêng, độc đáo, tới nay vẫn giữ nguyên giá trị thẩm mỹ và giá trị nghệ thuật.

Những tính cách, chính là đức độ bản sắc nhân vật ấy thường bộc lộ thụ động, tức là họ chỉ phô bày tâm trạng và cách ứng phó khi sự biến đă xẩy ra, bằng cách diễn xuất mang nội dung và h́nh thức nhiều ít hấp dẫn đủ sức làm gương cho người xem. Chỉ số ít mang tính cách vượt khỏi quan điểm phong kiến mới phô bày một cách chủ động, mà có đúng là cố ư, khi nghệ nhân dùng những làn điệu và khuôn diễn thật đặc sắc làm rạng rỡ nghệ thuật cổ truyền: tính từ những nhân vật Thày Đồ, Thày Bói, Phù Thuỷ, Vợ Mơ đến Thị Màu, Đào Huế, Suư Vân.

Đồng thời với sự xuất hiện lần lượt những cái mới trên, tính xung đột hay thường gọi là tính kịch trong một số bản tṛ cùng tuỳ người soạn, tuỳ tích, tuỳ phường gánh và khán giả mà gia tăng đáng kể. Điều này đi theo với việc bộc lộ tính cách nhiều hay ít chủ động của nhân vật. Như xung đột trực diện và quyết liệt giữa Đào Huế và Tuần Ty (với đào Nấp) là một bước "mới" so với xung đột cũng trực diện trước đấy giữa Châu Long và Lưu B́nh, hoặc giữa Vợ Mơ với Xă Trưởng.

Ở đây cũng thấy rơ quá tŕnh thu hút ḥa nhập số loại h́nh dân ca, dân vũ, diễn xướng và tṛ diễn dân gian làm thành bản thân nghệ thuật chèo, mà thực tế diễn xuất của số vở truyền thống c̣n hằn rơ dấu vết. Cho nên, nói "chèo ra đời từ thời Đinh, xây dựng trên cơ sở tṛ nhại và hát múa" như một nhà nghiên cứu đă viết là chưa thỏa đáng. Thực ra, chèo từ loại Giáo phát triển thành có tích, có nhân vật, từ đấy du nhập, chuyển biến các loại hát bỏ bộ (trong sinh hoạt hát Xoan, hát Dậm, hát Dô,...), các loại hát nói (trong hát ả đào, hát văn, hát xẩm,...), kết hợp với số động tác trong múa (hát) chèo đ̣, múa (hát) cửa đ́nh (các khuôn múa bàn tay, múa lượn ngón, múa cánh tay), múa mâm đên, múa qnạt, múa cờ,...; với cả những tṛ nói mặt, tṛ tŕnh nghề vốn rất phổ biến trong những hội làng, đánh dấu từng mức tŕnh độ sáng tạo và thưởng ngoạn nghệ thuật của đồng bào từng vùng.

Như vậy, chèo sân đ́nh h́nh thành ngôn ngữ nghệ thuật ngay khi thành h́nh và phát triển kịch chủng, là đă lưu ư nhiều đến số lớp tṛ chuyên dùng, xếp cạnh số lớp tṛ đa dùng, trong đó, âm nhạc giữ vai tṛ rất quan trọng. Nói cách khác, những ǵ làm người xem phân biệt chèo với các kịch chủng cùng nằm trong loại h́nh kịch hát dân tộc (Việt) như tuồng, kể thêm cải lương, chưa nói ôpêra, ôpêrét hay kịch nói, những cái lọt vào tai, hiện ra trước mắt người xem (dù là tâm tư t́nh cảm nhân vật hay không gian thời gian xẩy ra sự biến) chính là âm nhạc, gồm cả nhạc gơ, nhạc khí và làn điệu qua nghệ thuật biểu diễn của nhà nghề.

Do phải phụ thuộc hoặc chịu ảnh hưởng nhiều ít của những biến thiên văn hóa xă hội mỗi thời kỳ lịch sử mà từ Lư Trần về trước, nhạc dân gian và nhạc cung đ́nh, ḥa hợp gần như là một; sang đời Hậu Lê có lúc nhạc cung đ́nh hướng ngoại cố giữ vị trí chủ lưu, song không bao lâu cũng chịu bất lực để "tục nhạc" (trong đó có nhạc chèo) bùng lên, ùa tràn vào các lễ nghi triều miếu, bất chấp mấy lần vua Lê chúa Trịnh ra sắc chỉ cấm đoán ngăn chặn, như từng chép ở Đại Việt sử lư, Vũ trung tuỳ bút. Tới thế kỷ XIX, nhà Nguyễn có lúc muốn thâu tóm tất cả những ǵ thuộc lễ nhạc về một mối, lập hẳn một Thự, rồi một ban Hiệu Thư chuyên lo mà cũng chỉ cản trở chuyện đó phần nào. Bởi chèo sân đ́nh nhờ bám chắc vào đời sống đông đảo bà con và các Hội làng, nên dù ở hoàn cảnh nào cũng được nhân dân bù tŕ khích lệ mà tồn tại và lớn dần đến ngày nay.

Con đường gần 5 thế kỷ từ chèo Thuyền bản đến chèo Kiều, hoặc có thể nói, từ tṛ nhà Phật (có thể gọi là chèo sân chùa?)chuyển sang chèo sân đ́nh qua biết bao biến thiên văn hóa xă hội, cả chính trị, đă để lại cho đời cả một kho tàng nghệ thuật sân khấu dân tộc quư giá, đ̣i các thế hệ sau quan tâm bảo tồn, kế thừa, phát huy và phát triển.

Sự h́nh thành khuôn diễn cho từng loại nhân vật hay cho từng nhân vật cụ thể là cả một công tŕnh nghệ thuật mang tính tập thể cao độ, trong đó, mỗi người mỗi góp vào, phần nhiều từ ứng diễn ứng tác truyền đời trên cơ sở bản tṛ. V́ thế h́nh tượng vai đóng đă hầu thành khuôn diễn chung trên đường nét cơ bản đ̣i kẻ đi sau phải cố gắng tuân thủ, nhất thể đối với số vai hay, vở diễn hay, đă được giới nghề coi là vốn cũ truyền thống.

Chèo cải lương là một dạng chèo cách tân do Nguyễn Đ́nh Nghi khởi xướng và theo đuổi để thực hiện từ đầu những năm 1920 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, theo xu hướng phê phán tính ước lệ của chèo cổ. Chèo cải lương được soạn thành màn, lớp, bỏ múa và động tác cách điệu trong diễn xuất, xử lư những mô h́nh làn điệu chèo cổ, đưa nguyên những bài dân ca có sẵn vào bổ sung cho hát chèo. Bộ "Tám trận cười" của Nguyễn Đ́nh Nghi gồm những vở nổi tiếng.

Chèo chái hê, c̣n gọi là chèo nhị thập tứ hiếu - bắt nguồn từ nội dung diễn xướng: Là loại h́nh dân ca hát vào rằm tháng bảy hàng năm, hoặc trong đám tang, đám giỗ của người có tuổi thọ, có nguồn gốc từ việc kết nghĩa giữa 2 làng Vân Tương (Bắc Ninh) và Tam Sơn (Đông Anh, Hà Nội), gồm có các phần: 1. Giáo roi 2. Nhị thập tứ hiếu 3. Múa hát chèo thuyền cạn 4. Múa hát kể thập ân. Kết thúc chương tŕnh hát chèo chái hê thường là hát quan họ.

Điều thú vị là chèo Chải Hê ban đầu nhằm diễn xướng trong các đám tang hiếu của người cao tuổi, về sau, nhu cầu giải trí, giao lưu văn nghệ càng lên cao, nó có thêm những bài hát chèo thuyền và hát huê t́nh tươi tắn, sinh động. Xưa kia, làng Lũng Giang có đến ba phường chèo Chải Hê tại ba xóm Chùng, Chinh, Đông, thường hát thi với nhau.

Đặc điểm của chèo Việt

Không giống tuồng chỉ ca tụng hành động anh hùng của các giới quyền quư, chèo miêu tả cuộc sống b́nh dị của người dân nông thôn. Khát vọng sống thanh b́nh giữa một xă hội phong kiến đầy bất công. nhiều vở chèo c̣n thể hiện cuộc sống vất vả của người phụ nữ sẵn sàng hy sinh bản thân v́ người khác. Nội dung của các vở chèo lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc. Trong chèo, cái thiện luôn thắng cái ác, các sỹ tử tốt bụng, hiền lành, luôn đỗ đạt, làm quan c̣n người vợ th́ tiết nghĩa, cuối cùng sẽ được đoàn tụ với chồng. Các tích tṛ chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm; ca vũ nhạc từ dân ca dân vũ; lời thơ chủ yếu là thơ dân gian. Lối chèo thường diễn những việc vui cười, những thói xấu của người đời như các vai: Thầy mù, Hương câm, Đồ điếc, Quan Âm Thị Kính. Ngoài ra chèo c̣n thể hiện tính nhân đạo, như trong vở Trương Viên.

Một cảnh trong vở Trương Viên

Chèo luôn gắn với chất "trữ t́nh", thể hiện những xúc cảm và t́nh cảm cá nhân của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại: t́nh yêu, t́nh bạn, t́nh thương.

Nhân vật trong chèo

Vai Hề

Nhân vật trong chèo thường mang tính ước lệ, chuẩn hóa và rập khuôn. Tính cách của các nhân vật trong chèo thường không thay đổi với chính vai diễn đó. Những nhân vật phụ của chèo có thể đổi đi và lắp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng. Có thể gọi họ là thầy đồ, phú ông, thừa tướng, thư sinh, hề v.v...Tuy nhiên, qua thời gian, một số nhân vật như Thiệt Thê, Thị Kính, Thị Mầu, Súy Vân đă thoát khỏi tính ước lệ đó và trở thành một nhân vật có cá tính riêng.

Diễn viên đóng chèo nói chung là những người không chuyên, hợp nhau trong những tổ chức văn nghệ dân gian gọi là phường chèo hay phường tṛ..."Hề" là một vai diễn thường có trong các vở diễn chèo. Anh hề được phép chế nhạo thoải mái cũng như những anh hề trong cung điện của vua chúa châu Âu. Các cảnh diễn có vai hề là nơi để cho người dân đả kích những thói hư tật xấu của xă hội phong kiến hay kể cả vua quan, những người có quyền, có của trong làng xă. Có hai loại hề chính bao gồm :hề áo dài và hề áo ngắn

Kỹ thuật kịch

Đây là loại h́nh nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại h́nh nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nó là h́nh thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng. Sân khấu chèo dân gian đơn giản, những danh từ chèo sân đ́nh, chiếu chèo cũng phát khởi từ đó. Đặc điểm nghệ thuật của chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự, phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ và cách điệu. Ngôn ngữ chèo có những đoạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố, hoặc những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ.

Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như trong sân khấu châu Âu mà các nghệ sỹ tham gia diễn chèo thường ứng diễn. Do vậy, vở kịch kéo dài hay cắt ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sỹ hay đ̣i hỏi của khán giả. Không giống các vở opera buộc các nghệ sỹ phải thuộc ḷng từng lời và hát theo nhạc trưởng chỉ huy, nghệ sỹ chèo được phép tự do bẻ làn, nắn điệu để thể hiện cảm xúc của nhân vật. Số làn điệu chèo theo ước tính có khoảng trên 200.

Nhạc cụ

Chèo sử dụng tối thiểu là hai loại nhạc cụ dây là đàn nguyệt và đàn nhị đồng thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công c̣n sử dụng thêm trống và chũm chọe. Bộ gơ nếu đầu đủ th́ có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mơ. Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát. Có câu nói  phi trống bất thành chèo" chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống trong đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại có sử dụng thêm các nhạc cụ khác để làm phong phú thêm phần đệm như đàn thập lục, đàn tam thập lục, đàn nguyệt, tiêu v.v...

Chèo hay là thế, độc đáo là thế, nhưng bộ môn nghệ thuật truyền thống này với đặc điểm hiện diện là biểu diễn - các tŕnh thức múa hát xung quanh một thân tṛ, bởi thế cho nên, chèo được lưu truyền chủ yếu qua một trật tự hết sức tự nhiên: thày giáo già- con hát trẻ. Thế hệ nghệ sỹ sau, nối tiếp thế hệ trước, giữ nghề bằng cách truyền nghề trực tiếp, bắt tay chỉ ngón, dạy từng cách diễn, cách hát. Phần kịch bản văn học của chèo cổ cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay với một vài bản nôm, gần hơn là một vài bản bằng chữ quốc ngữ in trong trời Pháp thuộc (nhưng những bản này lại không mấy ch́nh xác so với những lớp diễn của các nghệ nhân!). Thực tế này là một khó khăn, thách thức lớn đối với công việc nghiên cứu, sưu tầm chèo cổ.

Từ năm 1959 đến năm 1964, Bộ văn hoá (nay là Bộ VH,TT&DL)  đă tổ chức các Hội nghị nghệ nhân. Mỗi đợt hội nghị diễn ra trong ṿng từ một đến ba tháng. Tại đây, qua sự giới thiệu của các Ty Văn Hoá địa phương, các nghệ nhân chèo đă được mời đến với mục đích phục hồi các tiết mục chèo cổ.

Trong thời gian họp lại với nhau, các cụ nghệ nhân đă chia tổ, cùng nhau nhớ, ghim ghép các mảnh tṛ, tṛ diễn lại với nhau. Trong quá tŕnh hội nghị, vốn liếng cá nhân đă dần dần đi tới thống nhất tương đối về mặt cấu trúc của các tṛ diễn. Từ những sáng tạo biểu diễn riêng biệt, mỗi chiếng diễn một khác, mỗi cụ diễn một khác đối với cùng một tṛ diễn hay vai diễn, các nghệ nhân đă gạn đục khơi trong, xây dựng những trích đoạn những vai diễn tiêu biểu, sau này chúng ta lấy đó làm mẫu.

Cho đến hôm nay, 7 vở chèo truyền thống được ǵn giữ, bảo tồn đă cho thấy hành tŕnh bảo tồn, sáng tạo nghệ thuật không chỉ tính bằng tháng năm thông thường mà phải được tính bằng đời nghệ sỹ, tính bằng những thăng trầm và ḷng nhiệt huyết với nghề tổ. Các nghệ nhân được quy tụ, tập hợp, khuyến khích sáng tạo trong môi trường lao động nghệ thuật đúng hướng và thực chất sẽ mang lại hiệu quả lớn mà thời gian và công chúng thưởng thức nghệ thuật sẽ là thước đo đánh giá chính xác.

Trên đường phát triển của ḿnh, chèo đă tiếp nhận nhiều nhân tố mới lạ cả về cấu trúc lẫn âm nhạc, múa, mỹ thuật... Những thủ pháp cấu trúc của kịch nói (gốc phương Tây) đă được du nhập vào chèo để phục vụ cho việc kể chuyện của chèo thêm hấp dẫn, nhưng đă được "chèo hóa", hài ḥa trong mạch kể. Những làn điệu dân ca các vùng, miền Trung, miền Nam, các dân tộc miền núi, thậm chí của cả nước khác trên thế giới cũng được "chèo hóa" đi cho phù hợp với phong cách của nó, phù hợp với "khẩu vị" của người dân quê đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. Có thể nói, người Việt Nam đă h́nh thành nên một kiểu "Văn hóa chèo" bền vững và đầy sức sống (bao gồm Văn chèo, Nhạc chèo, Múa chèo, Mỹ thuật chèo và Cách diễn chèo). Nó không bị đồng hóa, mà c̣n có khả năng tự làm phong phú bằng cách đồng hóa các yếu tố ngoại nhập trên con đường phát triển của ḿnh và luôn luôn đào thải những ǵ không phù hợp với nó. Cái chất dân dă mộc mạc, nhắn nhủ duyên dáng, hài hước đă tạo dựng lên cái xương cốt của chèo với phong vị riêng. Nó nghiêm chỉnh đấy nhưng cũng hài hước ngay được. Cái bi tưởng đến tột cùng nhưng lại xóa ngay được bằng cái hài ư vị, thoắt hư thoắt thực, có lúc nhân cái phi lí để làm rơ cái có lư, cứ thế dẫn người xem vào một cuộc hành tŕnh đầy bất ngờ và thú vị.

Trải qua trăm năm thời gian, con người đất Việt đă tạo nên xung quanh tâm hồn ḿnh một cơ tầng văn hoá với những vỉa trầm tích quư giá, đó chính là hàng trăm, hàng ngh́n câu ca dao, tục ngữ, dân ca, điệu ḥ… và nghệ thuật chèo truyền thống. Chúng ta có thể tự tin để nói với nhau rằng- qua hệ thống các nhân vật tạo nên các tích tṛ lư thú, nghệ thuật chèo đă mang lại cho con người Việt Nam truyền thống sự thanh lọc tâm hồn.

 

Cinet tổng hợp