Cứ vào ngày 10/2 âm lịch hằng năm, tại đ́nh làng thờ Thành hoàng làng Xuân Phả, xă Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, năm điệu múa cổ đặc sắc độc đáo, duy nhất chỉ có ở xă Xuân Trường có tên "Ngũ quốc lân bang đồ tiến cống" gồm các tṛ Hoa Lang, Ai Lao, Tú Huần, Chiêm Thành và Ngô Quốc, lại được tŕnh diễn tại Lễ hội tṛ Xuân Phả.

Tṛ Xuân Phả là một trong ba di sản văn hoá, văn nghệ quư ở xứ Thanh (gồm tổ khúc ḥ sông Mă, tổ khúc dân ca Đông Anh và tṛ Xuân Phả). Nếu ḥ sông Mă hay dân ca Đông Anh thể hiện lối sinh hoạt thường ngày của nhân dân th́ tṛ Xuân Phả thể hiện lối sinh hoạt cung đ́nh, mang đậm tính chất ngoại giao...

Ngoài ra, nếu đem so sánh tṛ Xuân Phả với một số điệu múa như múa Dậm (thờ Lư Thường Kiệt), múa Dô (thờ Tản Viên và bộ tướng của ông), múa hát tàu tượng ở Tổng Gối (Đan Phượng - Hà Nội)... th́ thấy, những điệu múa này có sự pha trộn yếu tố cung đ́nh và dân gian mang đầy tính chất ước lệ nhưng đầy huyền bí, lộng lẫy, phản ảnh quan niệm thẩm mỹ của dân tộc nói chung, của người nông dân nơi nó được sinh ra nói riêng. Tṛ Xuân Phả, v́ vậy, “đủ tư cách” tạo nên, là một sinh hoạt văn hoá mà qua biểu diễn người dân thưởng thức được cả trên phương diện cảm thụ và hiểu biết sâu sắc về nó.

Tṛ Xuân Phả - Từ truyền thuyết …

Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu quy mô nào về tṛ Xuân Phả, nhưng một số nhà văn hoá dân gian khi t́m hiểu về các điệu múa trong tṛ Xuân Phả đều khẳng định đây là những điệu múa mang tính liên tục, như một vở diễn có năm lớp tương đương với năm tṛ diễn và đậm chất của người Việt cổ.

Truyền thuyết kể rằng, vào thời Vua Lê, đất nước có giặc ngoại xâm, nhà Vua cho sứ giả đi khắp nơi cầu bách linh, bách tính và hiền tài cùng nhau đứng lên đánh giặc cứu nước. Khi quan quân đi đến bờ sông Chu, gần làng Xuân Phả th́ gặp giông tố phải trú lại. Đến đêm, thần Thành hoàng làng Xuân Phả báo mộng về cách đánh giặc, nhà Vua làm theo quả nhiên thắng trận.  Đất nước trở lại thanh b́nh, nhà Vua mở hội mừng công. Trong ngày hội, các nước lân bang đă đến dự hội, vừa tỏ ḷng khâm phục Vua nước Đại Việt, vừa tỏ mối giao bang ḥa hảo.

Đặc biệt, các nước chư hầu, các bộ tộc đă mang theo đến hội nhiều điệu múa, hát đặc sắc của dân tộc ḿnh. Người dẫn đầu đoàn tṛ vào múa hát có mang theo một biển gỗ sơn son thiếp vàng giới thiệu về quốc gia, dân tộc ḿnh như "Chiêm Thành đồ tiến cống," "Ai Lao đồ tiến cống" hoặc "Hoa Lang đồ tiến cống"... Để tỏ ḷng biết ơn Thành hoàng làng Xuân Phả, Nhà Vua đă ban thưởng những điệu múa hát hay nhất, đẹp nhất cho dân làng. Đó chính là các điệu Chiêm Thành, Ai Lao, Ngô Quốc, Hoa Lang và Lục Hồn Nhung (c̣n gọi là Tú Huần).

Từ đời này qua đời khác, người dân làng Xuân Phả vẫn tổ chức lễ hội tṛ Xuân Phả vào các ngày 10, 11/2 âm lịch hằng năm để tưởng nhớ công đức của Thành hoàng làng.

….Đến di sản văn hoá quư - đỉnh cao của nghệ thuật múa cung đ́nh và dân gian Việt

Múa Xuân Phả đă được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Khi xưa, Nguyễn Trăi đă dựa theo tṛ múa Xuân Phả để sáng tác múa Chư hầu lai triều cho Vua Lê Nhân Tông. Ngày nay, nhiều nhà biên đạo múa cũng dựa vào tinh hoa ở tṛ múa này để sáng tạo nên các tiết mục múa. Tṛ múa Xuân Phả từng được chọn là đại diện cho văn hoá xứ Thanh phô diễn ở các sự kiện như "Chào Thiên niên kỷ mới" (năm 2000), Festival Huế 2004...

Hội tṛ Xuân Phả được tŕnh diễn trước sân nghè phía đầu làng, vào dịp lễ các vị thần linh được làng thờ phụng, như Đại Hải long vương, Hoàng Lang tướng quân, một công thần triều Đ́nh và Tiền Lê (thế kỷ X). Mối liên quan giữa  vị thần được thờ và hội tṛ vẫn là điều mà mọi người quan tâm, nhưng theo truyền tụng, th́ 5 “nước tṛ” c̣n diễn đến ngày nay, là do vua ban truyền lại cho một “ông tiên chỉ” người địa phương để dạy cho dân làng.

Là một hội tṛ nổi tiếng cả xứ Thanh, nhưng việc chuẩn bị về mặt vật chất đơn giản, sân khấu không cần trang trí cầu kỳ, thậm chí trên một băi cỏ rộng cũng có thể diễn được. Nhạc cụ là một cái trống, vài đốc thanh tre…c̣n khan giả bao nhiêu cũng được. Điều quyết định giá trị của hội tṛ là đội múa tṛ, gồm khoảng 20 thành viên, thường là các lăo nông và trai đinh. Họ phải luyện tập thành thạo các vai diễn và vai quan trọng nhất của 5 “nước tṛ” là vai chúa. Vai chúa do các cô gái trẻ và đẹp trong làng đóng. Các công việc này phải chuẩn bị xong trước đó dăm ngày.

Múa Xuân Phả, có năm tṛ th́ có tới ba tṛ, các nhân vật tham gia các điệu múa trong tṛ diễn phải đeo mặt nạ (gồm Chiêm Thành, Hoa Lang và Tú Huần) và các tṛ diễn hầu như đều do nam giới đảm nhiệm.chỉ có điệu Tú Huần, Hoa Lang và Ngô Quốc có bài hát họa cùng nhưng lại chỉ có hai điệu Hoa Lang và Ngô Quốc có nữ tham gia ở các vai tiên, phỗng. Bài Hoa Lang chỉ hát khi chúa và quân múa xong, dạo trống bắt đầu  xắp mái chèo để chèo đ̣... Các nhân vật tham gia tṛ diễn ăn mặc sặc sỡ, với màu chủ đạo là màu đỏ, màu xanh và màu vàng. Những điệu múa, điệu nhảy của các nhân vật tham gia trong từng tṛ diễn đă khiến người xem có một cảm giác hết sức rộn ràng, đứng ngồi không yên.

Về năm điệu múa trong tṛ Xuân Phả gồm:

1 - Tṛ múa Hoa Lang: Có 2 người đội lốt kỳ lân ra múa. Tiếp đó, có ông chúa múa siêu đao và 2 quân múa đấu ngựa. Theo sau là đoàn quân 10 người múa quạt. Đoạn kết múa chèo thuyền thay lời tạm biệt kẻ ở, người đi. Phục trang cho phần múa này là áo dài tứ thân màu xanh nước biển, quần trắng mũ da ḅ cong 2 đầu.

2 - Tṛ múa Chiêm Thành: Gồm có 14 người (1 chúa, 1 nàng, 2 phỗng, 10 quân). Phục trang có 11 áo đỏ vải mền dài hơn 1 m viền mép, ngực áo chúa có h́nh hổ phù, 2 bộ xiêm của phỗng bằng vải cứng, 3 màu, màu đen khoác ở cổ và buộc ở bụng, áo vải trắng lót ở trong, 11 khăn buộc ngang lưng rộng 0,4m, dài gấp đôi, khi buộc gấp chéo và buộc đầu đỏ, cạnh dài 0,6m co 2 sừng h́nh quả chuối dính vào đỉnh, 11 mặt nạ gỗ sơn đỏ, có mắt lông công, phía trong mặt nạ có que để ngậm vào miệng khi đeo, 13 đôi bít tất trắng hoặc đỏ. Tṛ diễn không có bài hát. Phỗng có 2 điệu múa dâng hương, sau đó đội h́nh múa dàn ra và diễn theo nhịp trống. Chúa và quân tŕnh diễn các động tác đến 3 lần theo quy định. Phần kết múa tung hoa.

3 - Tṛ múa Lục Hồn Nhung: Mở đầu có một cụ già chống gậy, theo sau là đoàn gơ sênh. Tất cả tựa như đàn con vây quanh người mẹ. Phục trang múa gồm áo dài xanh đen, lưng thắt khăn nâu, đầu đội tóc trắng.

4 - Tṛ múa Ai Lao: Một người đội lốt hổ chạy mở đầu. Hai người đội lốt voi ra múa ngẫu hứng, mở đường. Chúa Lào (đội mũ cánh chuồn, áo thụng xanh chàm) xuất hiện, hai bên có lính bảo vệ. Cả đoàn đi trong tiếng sênh tre được gơ nhịp liên hồi, biểu hiện sức mạnh các chàng trai đi săn.

5 - Tṛ múa Ngô Quốc: Mở đầu có người bán thuốc, người bán kẹo và thầy địa lư múa một đoạn ngẫu hứng rồi nhường chỗ  cho hai nàng tiên và đoàn quân đi ra. Đoàn này múa quạt và khăn, tiếp đó múa mái chèo.

Về phần âm nhạc, các tṛ múa Xuân Phả thường dùng bộ gơ dân tộc, như trống, mơ, thanh la, năo bạt, rất độc đáo và gây ấn tượng mạnh. "Bỏ cửa, bỏ nhà, bỏ gạo chó ăn..." - khi nghe tiếng nhạc cụ của tṛ múa này vang lên, mọi người đều đứng ngồi không yên. Người ta gọi là tṛ Xuân Phả bởi có phần diễn mở đầu của các nhân vật và con vật - diễn thường ngẫu hứng và đem lại cho người xem những tiếng cười sảng khoái.  Múa Xuân Phả phải sử dụng nhiều đạo cụ và mỗi đạo cụ có một h́nh tượng riêng. Những động tác khi múa, lúc uyển chuyển nhịp nhàng, khi lại mạnh mẽ, tạo nên những cao trào, đem đến cho khán giả một khoái cảm thẩm mỹ kỳ lạ. Trong mỗi điệu múa của tṛ múa Xuân Phả đều có nét độc đáo riêng mà ở các điệu múa khác của người Kinh không có.

Về nhạc cụ, đạo cụ. Hầu hết đạo cụ diễn tṛ Xuân Phả đều chế tạo bằng nguyên liệu sẵn có như tre, trúc, gỗ vông, rễ cây si. Các loại nhạc cụ gồm trống, nhị, hồ, thanh la, năo bát, mơ hoặc xênh tre... Trống có đường kính mặt 60- 65 cm nhưng phải có tiếng và âm phù hợp với loại h́nh tṛ diễn. Mơ có h́nh dáng cong lưỡi liềm, dài khoảng 20cm được chế từ gốc tre già, mặt ngoài được làm nhẵn, bên trong đục rỗng để có độ cộng hưởng âm thanh.

Các đặc điểm trong tṛ múa Xuân Phả:  Hầu hết nhân vật trong các tṛ đều phải đeo mặt nạ, tạo cảm giác lạ, ngộ nghĩnh. Và cũng hầu hết trong các tṛ đều do diễn viên nam đảm nhiệm, c̣n nếu có diễn viên nữ tham gia th́ chỉ ở các vai tiên, phỗng.

Trong múa Xuân Phả, “điểm nhấn” thuộc về các nam nghệ sĩ với những động tác phóng khoáng, tay chân mở rộng, khỏe, thể hiện “trong nhu có cương, trong cương có nhu” qua nhiều động tác múa, tuyến múa, đội h́nh múa, làm tôn nên sắc thái văn hóa lúa nước, vẻ duyên dáng, tinh tế, kín đáo nhưng cũng rất mạnh mẽ của người Việt. Những điệu múa ấy gợi nhớ đến điệu múa Chư hầu lai triều, B́nh Ngô phá trận dưới triều Lê Thánh Tông với các nghi thức cúng lễ có ở nhiều đám tế tự khác trước nghè thờ thành hoàng làng, ít gặp trong các điệu vũ dân gian quen thuộc bởi lời ca không liên quan ǵ đến múa, đảm bảo ổn định cả phần hồn lẫn phần sắc trong ngôn ngữ và cấu trúc múa...  

Tṛ múa Xuân Phả thường thể hiện những khát khao vươn lên của con người, như một đỉnh cao nghệ thuật của múa cung đ́nh và dân gian Việt. Xem múa Xuân Phả, người ta dễ cảm nhận được vẻ đẹp lung linh của một viên ngọc quư.

Tṛ Xuân Phả là di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc nhất c̣n lưu giữ được tương đối nguyên vẹn ở Thanh Hóa sau hàng trăm năm qua cho đến ngày nay. Được biết, trong thời gian tới, UBND huyện Thọ Xuân – Thanh Hoá sẽ tiếp tục đầu tư, sưu tầm, thu thập thêm các tư liệu để xây dựng hồ sơ, đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận tṛ Xuân Phả trở thành di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Ngoài ra, dự kiến, đội tṛ Xuân Phả của xă Xuân Trường sẽ tham gia biểu diễn phục vụ khán giả cả nước vào dịp đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Cinet tổng hợp